
Cuộc hồi sinh của những “cánh đồng xanh”
Trong nhiều thập kỷ, canh tác lúa gạo truyền thống với việc sử dụng quá mức phân bón hóa học đã vô tình biến những cánh đồng trở thành nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể, đặc biệt là khí mê-tan. Tuy nhiên, từ khi Đề án phát triển bền vững một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp được triển khai tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một tư duy sản xuất mới vì môi trường đã bắt đầu được định hình rõ rệt.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau 2 năm triển khai Đề án, diện tích thực hiện trên thực tế đã đạt 354.839 ha, vượt xa mục tiêu ban đầu. Toàn bộ 354.839 ha tham gia Đề án đều áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa. Việc sử dụng giống lúa chất lượng cao được áp dụng trên 100% diện tích. Lượng giống gieo sạ được giảm từ 30–50%, lượng phân đạm giảm khoảng 30% và số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm từ 2–3 lần so với phương thức canh tác truyền thống. Lượng nước tưới cũng giảm khoảng 20%.
Ngoài ra, toàn bộ diện tích tham gia Đề án đều áp dụng ít nhất một tiêu chí trong quy trình canh tác bền vững như thực hành “1 phải – 5 giảm” hoặc rút nước ruộng ít nhất một lần trong vụ sản xuất.
Một trong những điểm sáng nhất về môi trường của Đề án là việc ứng dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD). Các nghiên cứu từ Tổ chức Nghiên cứu Nông nghiệp và Thực phẩm Quốc gia Nhật Bản (NARO) đã chứng minh phương pháp này có khả năng giảm phát thải khí mê-tan khoảng 30% so với cách làm truyền thống. Việc rút nước giữa vụ không chỉ giúp cây lúa khỏe mạnh hơn mà còn ngăn chặn quá trình phân hủy yếm khí tạo ra khí nhà kính.
Một mắt xích quan trọng trong việc xây dựng “lá chắn” bảo vệ bầu khí quyển là xử lý phụ phẩm rơm rạ bởi tình trạng đốt rơm rạ sau thu hoạch là nguồn gây ô nhiễm không khí và giải phóng lượng lớn carbon trực tiếp vào khí quyển.
Huy động nguồn lực tài chính cho nỗ lực phát thải giảm
Đề án đã thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế tuần hoàn khi thu gom khoảng 70% lượng rơm rạ để tái sử dụng làm nấm rơm, phân bón hữu cơ hoặc thức ăn chăn nuôi. Việc chuyển đổi từ “đốt bỏ” sang “tái tạo” giúp giảm đáng kể dấu chân carbon của ngành lúa gạo, hướng tới mục tiêu giảm ít nhất 15% tổng phát thải của ngành trồng trọt vào năm 2035,
Đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định, Đề án này là bước đi quan trọng trong việc cơ cấu lại ngành hàng lúa gạo theo hướng có trách nhiệm với môi trường. Mục tiêu đến năm 2030 là giảm trên 10% phát thải khí nhà kính so với canh tác truyền thống trên diện tích 1 triệu ha.
Hơn cả những con số, sự thành công của đề án đang định vị lại hình ảnh hạt gạo Việt trên bản đồ thế giới. 500 tấn gạo đầu tiên mang nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” xuất khẩu sang Nhật Bản là lời khẳng định mạnh mẽ: Việt Nam đang sản xuất những nông sản “xanh, sạch, bền vững”.
Dù vẫn còn những thách thức về hạ tầng thủy lợi nội đồng và năng lực của các hợp tác xã, nhưng lộ trình chuyển đổi xanh là không thể đảo ngược. Để triển khai hiệu quả Đề án, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tích cực huy động nhiều nguồn lực trong và ngoài nước. Trong đó, đáng chú ý là đề xuất dự án “Hỗ trợ hạ tầng và kỹ thuật cho lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL” vay vốn Ngân hàng Thế giới với tổng trị giá 405 triệu USD, gồm 315 triệu USD vốn vay và 90 triệu USD vốn đối ứng.
Ngoài ra, Ngân hàng Thế giới đã cam kết huy động 50 triệu USD vốn viện trợ không hoàn lại, bao gồm 40 triệu USD từ Quỹ chuyển đổi tài sản carbon (TCAF) và 10 triệu USD từ Hệ thống Lương thực 2030 để hỗ trợ triển khai Đề án.
Sau hai năm triển khai, Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã tạo ra những chuyển biến rõ nét trong tổ chức sản xuất và tư duy canh tác tại ĐBSCL. Không chỉ nâng cao giá trị ngành hàng lúa gạo, chương trình còn góp phần cải thiện sinh kế cho nông dân, bảo vệ môi trường và nâng cao vị thế gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Bảo Thương

