
Thực trạng kinh tế xanh tại Việt Nam
Kinh tế xanh được hiểu là mô hình phát triển ưu tiên phát thải carbon thấp, sử dụng tài nguyên hiệu quả và làm giàu vốn tự nhiên, đồng thời bảo đảm công bằng xã hội. Việt Nam đã xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ, lấy Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 làm nền tảng.
Mục tiêu cụ thể là giảm phát thải khí nhà kính (GHG) so với năm 2014 trên đơn vị GDP ít nhất 15% vào năm 2030 và đạt mức 30% vào năm 2050, đồng thời nâng tỉ trọng năng lượng tái tạo lên 15 – 20% tổng cung năng lượng sơ cấp vào năm 2030. Những chỉ tiêu này không chỉ phản ánh cam kết quốc tế về trung hòa carbon mà còn định hướng tái cấu trúc nền kinh tế theo mô hình thấp carbon…
Chính phủ Việt Nam lần đầu tiên chính thức xác định nội hàm của tăng trưởng xanh như một nội dung cốt lõi trong phát triển bền vững, với định nghĩa rõ ràng: “Tăng trưởng xanh bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và đóng góp quan trọng vào việc thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu”.
Để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược này, Chính phủ ưu tiên ba nhiệm vụ trọng tâm. Thứ nhất, giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên đơn vị GDP và thúc đẩy năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Thứ hai, xanh hóa sản xuất thông qua tái cấu trúc chuỗi giá trị công nghiệp, nông nghiệp theo mô hình tuần hoàn và công nghệ thấp carbon. Thứ ba, xanh hóa lối sống kết hợp thúc đẩy tiêu dùng bền vững, thay đổi hành vi xã hội nhằm tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và giảm thiểu chất thải.
Khung định hướng này không chỉ tạo hệ sinh thái pháp lý đồng bộ mà còn bảo đảm tính khả thi, khả năng đo lường và liên kết chặt chẽ với các cam kết quốc tế về phát triển bền vững và trung hòa carbon (Net Zero) vào năm 2050.
Các mục tiêu kinh tế xanh được thiết kế đồng bộ với tăng trưởng bền vững, thể hiện qua chỉ tiêu giảm tiêu hao năng lượng trên GDP 1% – 1,5%/năm, nâng tỉ trọng kinh tế số lên 30% GDP vào năm 2030 và duy trì độ che phủ rừng 42% diện tích tự nhiên. Đến năm 2050, Việt Nam dự kiến huy động 2,4 nghìn tỷ USD cho năng lượng xanh và hạ tầng thích ứng khí hậu, tương đương 7 – 8% GDP hằng năm, theo ước tính của Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới.
Đặc trưng cốt lõi là khung chính sách này không chỉ giảm rủi ro khí hậu (ước tính thiệt hại 3 – 5% GDP/năm nếu không hành động), mà còn tạo nền tảng tăng trưởng chất lượng cao.
Việc tích hợp “chuyển đổi kép” kinh tế xanh và kinh tế số sẽ giúp tối ưu hóa chuỗi cung ứng, nâng cao năng suất lao động 20 – 30% thông qua nông nghiệp thông minh, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu xanh theo tiêu chuẩn của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới… Kết quả dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án xanh tăng 25%. Điều này chứng minh tính khả thi, khẳng định kinh tế xanh là động lực chiến lược cho Việt Nam để đạt được mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh tế tuần hoàn được thúc đẩy qua Quyết định 222/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/1/2025 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035, với mục tiêu giảm khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo, tài nguyên nước; tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, nguyên liệu, vật liệu; tiết kiệm năng lượng, phấn đấu đạt được các chỉ tiêu về sử dụng hiệu quả tài nguyên (đất, nước, khoáng sản) tương đương với các nước dẫn đầu ASEAN.
Những thành tựu này góp phần thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc, đặc biệt năng lượng sạch (SDG 7) và việc làm xanh (SDG 8), tạo nền tảng tăng trưởng chất lượng cao. Đây được coi là “xương sống” của thị trường carbon, cung cấp dữ liệu đáng tin cậy để Chính phủ phân bổ hạn ngạch, doanh nghiệp giao dịch tín chỉ và hội nhập quốc tế.
Thách thức và khuyến nghị
Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng kể, quá trình triển khai kinh tế xanh tại Việt Nam vẫn đối mặt với ba nhóm thách thức chính, đòi hỏi cần đánh giá cẩn trọng để triển khai giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng bền vững.
Thứ nhất, nền kinh tế còn phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ nhập khẩu và năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) nội địa còn hạn chế. Việt Nam chủ yếu nhập khẩu 80 – 90% công nghệ xanh (như pin mặt trời, turbine gió), dẫn đến chi phí cao và rủi ro chuỗi cung ứng toàn cầu. Năng lực R&D nội địa chỉ chiếm 0,5% GDP (năm 2025), thấp hơn mức trung bình ASEAN (1%), khiến doanh nghiệp khó làm chủ công nghệ lõi như lưu trữ năng lượng hoặc vật liệu sinh học. Điều này hạn chế khả năng cạnh tranh dài hạn và tăng rủi ro.
Để khắc phục vấn đề này, yêu cầu đặt ra là gia tăng đầu tư R&D lên 2% GDP đến 2030 thông qua Quỹ Đổi mới sáng tạo quốc gia, ưu tiên hợp tác công – tư (PPP) với các tập đoàn lớn trong sản xuất pin lithium. Xây dựng các trung tâm R&D xanh trong khu vực, vườn ươm công nghệ, nơi đào tạo các kỹ sư xanh có chất lượng cao trong nước, hướng đến mục tiêu giảm dần phụ thuộc nhập khẩu công nghệ ít nhất 50% vào năm 2030.
Thứ hai, chi phí chuyển đổi xanh khá cao trong khi nguồn lực tài chính còn hạn chế. Ước tính cần 30 tỷ USD giai đoạn 2021 – 2030 cho chuyển đổi xanh (theo Ngân hàng Thế giới), nhưng ngân sách nhà nước đáp ứng không quá 30%, điều này buộc doanh nghiệp tự gánh gần 70% chi phí, vượt khả năng của 97% doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mức độ kinh tế tuần hoàn thấp (7 – 10%) làm tăng gánh nặng tài chính, với chi phí ban đầu cao 20 – 30% so với công nghệ truyền thống.
Từ thách thức liên quan đến chi phí, Ngân hàng Nhà nước cần điều chỉnh, hoàn thiện thể chế về hoạt động cấp tín dụng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp với các dự án chuyển đổi xanh; nghiên cứu, xây dựng mô hình phát triển ngân hàng xanh; ban hành các chính sách tín dụng ưu đãi cho các dự án đầu tư xanh. Bên cạnh đó, Nhà nước cần chính sách tài chính cụ thể khác nhằm ưu tiên và thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tham gia chuỗi cung ứng xanh.
Thứ ba, các doanh nghiệp SME hạn chế về nhận thức chuyển đổi xanh, dữ liệu MRV phân tán và cơ chế thị trường carbon còn sơ khai. Chỉ 17% doanh nghiệp SME có chiến lược xanh (theo báo cáo PCI 2023), thị trường carbon thí điểm ở Việt Nam đang chậm hơn so với dự kiến (lùi sang 2026 do hệ thống MRV chưa chuẩn hóa), dữ liệu phát thải phân tán giữa các bộ, ngành. Điều này cản trở giao dịch tín chỉ carbon và hội nhập quốc tế.
Giải pháp khắc phục là thúc đẩy đào tạo 1 triệu lao động số – xanh đến năm 2030, đồng thời nhanh chóng xây dựng hệ thống MRV quốc gia thống nhất, kết nối đăng ký carbon với sàn giao dịch. Bên cạnh đó, hiệp hội doanh nghiệp chủ động hợp tác qua chương trình hỗ trợ xuất khẩu xanh, hỗ trợ chứng nhận ESG cho các ngành xuất khẩu chủ lực.
Kinh tế xanh là con đường tất yếu, không chỉ đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả mà còn tạo nền tảng ổn định, mang lại thịnh vượng cho Việt Nam. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần quyết liệt triển khai đồng bộ từ chính sách, tài chính và công nghệ liên quan đến chiến lược “chuyển đổi kép” giữa kinh tế xanh và kinh tế số trong giai đoạn 2026 – 2030. Hành động hôm nay sẽ định hình tương lai một Việt Nam xanh, tiên phong trong khu vực về phát triển bền vững và hội nhập kinh tế toàn cầu một cách có trách nhiệm.
Theo báo cáo mới nhất, tổng giá trị trái phiếu xanh phát hành tại Việt Nam giai đoạn 2020 – 2025 vượt 1,5 tỷ USD. Dòng vốn này thúc đẩy tài trợ cho hạ tầng nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và chuỗi cung ứng nông sản giảm phát thải. Đáng chú ý, sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế như ADB qua mô hình tài trợ kết hợp tại BIDV và Agribank đã cải thiện cấu trúc vốn, tối ưu hóa rủi ro và giảm gánh nặng tài chính cho ngân hàng thương mại. Những chính sách này tạo hệ sinh thái pháp lý toàn diện, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi thông qua ưu đãi tín dụng và thuế.
TS Nguyễn Thị Cẩm Giang
