By using this site, you agree to the Privacy Policy and Terms of Use.
Accept
NetZero.VN - Net Zero Viet NamNetZero.VN - Net Zero Viet NamNetZero.VN - Net Zero Viet Nam
  • Tiếng Việt
    • Tiếng Việt
    • English
  • Trang chủ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Thế giới
    • Sự kiện
    • Cà phê Net Zero
    • Meet The Experts
    • Net Zero Talks
    • Diễn đàn
    • Tuyển dụng
  • Bài viết
  • Lĩnh vực
    • Chính sách
    • Công nghiệp
    • Giáo dục & Truyền thông
    • Khoa học & Công nghệ
    • Năng lượng
    • Nông – Lâm nghiệp
    • Phát triển bền vững
    • Tài chính
    • Tài nguyên & Môi trường
    • Văn hóa, Thể thao, Du lịch
    • Xây dựng & Giao thông
    • Các lĩnh vực khác
  • Địa phương
    • Bắc Ninh
    • Cà Mau
    • Đà Nẵng
    • Đắk Lắk
    • ĐBSCL
    • Đồng Nai
    • Gia Lai
    • Hà Nội
    • Hải Phòng
    • Huế
    • Khánh Hòa
    • Lào Cai
    • Nghệ An
    • Quảng Ninh
    • Quảng Trị
    • TP Hồ Chí Minh
  • Doanh nghiệp
    • Dự án
    • Thị trường carbon
    • Thông tin doanh nghiệp
  • Tài liệu
    • Bài thuyết trình
    • Báo cáo
    • Sách / Kỷ yếu
    • Văn bản pháp luật
  • Multimedia
    • Podcasts
    • Videos
Notification Show More
Font ResizerAa
NetZero.VN - Net Zero Viet NamNetZero.VN - Net Zero Viet Nam
Font ResizerAa
  • Tiếng Việt
    • Tiếng Việt
    • English
  • Trang chủ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Thế giới
    • Sự kiện
    • Cà phê Net Zero
    • Meet The Experts
    • Net Zero Talks
    • Diễn đàn
    • Tuyển dụng
  • Bài viết
  • Lĩnh vực
    • Chính sách
    • Công nghiệp
    • Giáo dục & Truyền thông
    • Khoa học & Công nghệ
    • Năng lượng
    • Nông – Lâm nghiệp
    • Phát triển bền vững
    • Tài chính
    • Tài nguyên & Môi trường
    • Văn hóa, Thể thao, Du lịch
    • Xây dựng & Giao thông
    • Các lĩnh vực khác
  • Địa phương
    • Bắc Ninh
    • Cà Mau
    • Đà Nẵng
    • Đắk Lắk
    • ĐBSCL
    • Đồng Nai
    • Gia Lai
    • Hà Nội
    • Hải Phòng
    • Huế
    • Khánh Hòa
    • Lào Cai
    • Nghệ An
    • Quảng Ninh
    • Quảng Trị
    • TP Hồ Chí Minh
  • Doanh nghiệp
    • Dự án
    • Thị trường carbon
    • Thông tin doanh nghiệp
  • Tài liệu
    • Bài thuyết trình
    • Báo cáo
    • Sách / Kỷ yếu
    • Văn bản pháp luật
  • Multimedia
    • Podcasts
    • Videos
Follow US
© 2023-2025 NetZero.VN | Net Zero VietNam JSC. All Rights Reserved.
NetZero.VN - Net Zero Viet Nam > Bài viết > Xanh hóa nguồn lực: Cơ hội gia tăng lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Bài viếtDoanh nghiệp

Xanh hóa nguồn lực: Cơ hội gia tăng lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và áp lực thực hiện các cam kết phát triển bền vững ngày càng gia tăng, chuyển đổi xanh đã trở thành một yêu cầu tất yếu đối với nền kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi xanh không chỉ là vấn đề tuân thủ mà ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng dài hạn.

NetZero.VN 08/04/2026
SHARE
(Ảnh minh họa: NetZero.VN)

Bài viết phân tích về vấn đề xanh hóa nguồn lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, trong bối cảnh chuyển đổi xanh và cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) đang đặt ra yêu cầu tái cấu trúc các nguồn lực doanh nghiệp. Nghiên cứu khái quát xanh hóa nguồn lực như một quá trình chiến lược tái cấu hình đồng thời 3 nhóm nguồn lực: con người – tri thức, công nghệ – quy trình và quản trị – văn hóa; đồng thời phân tích thực trạng triển khai quá trình này trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Kết quả cho thấy xanh hóa nguồn lực đã được triển khai ở một số doanh nghiệp với những biểu hiện nhất định, nhưng còn phân tán và chưa trở thành năng lực động trọng tâm của phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa do tồn tại các rào cản thể chế, tài chính, kỹ năng và văn hóa tổ chức tại các doanh nghiệp này. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy quá trình xanh hóa nguồn lực vận hành như một động lực nội sinh cho chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đặt vấn đề

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân nhấn mạnh vai trò của khu vực tư nhân, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực quản trị và ứng dụng công nghệ xanh, góp phần đã tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tham gia vào cuộc đua phát triển bền vững. Tuy nhiên, còn tồn tại nhiều rào cản khiến cho các DNNVV tại Việt Nam chưa thực sự tạo ra được những chuyển đổi mạnh mẽ trong hoạt động quản trị hướng tới phát triển xanh và bền vững, bao gồm các hạn chế về nguồn lực tài chính, tiếp cận thông tin, công nghệ và nhân lực chất lượng cao. Chính vì vậy, nếu cố gắng áp dụng các mô hình chuyển đổi xanh toàn diện giống như doanh nghiệp lớn, nhiều DNNVV có thể gặp rủi ro về chi phí và khả năng triển khai. Thực tiễn cho thấy, phần lớn DNNVV tại Việt Nam hiện mới dừng lại ở các hoạt động rời rạc như tiết kiệm năng lượng, cải tiến quy trình hoặc đáp ứng yêu cầu từ đối tác, thay vì xây dựng một chiến lược chuyển đổi mang tính hệ thống và dài hạn. Điều này cho thấy cần một cách tiếp cận linh hoạt và phù hợp hơn với điều kiện của các doanh nghiệp DNNVV.

Trên cơ sở tích hợp các nền tảng lý thuyết liên quan, nghiên cứu nhằm làm rõ cơ chế thông qua đó xanh hóa nguồn lực có thể góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp. Nghiên cứu được triển khai với 3 mục tiêu chính: (1) Xây dựng khung lý thuyết về xanh hóa nguồn lực trên cơ sở tích hợp các cách tiếp cận Lý thuyết dựa trên nguồn lực nội tại, Lý thuyết dựa trên nguồn lực gắn với môi trường tự nhiên và năng lực động; (2) Phân tích thực trạng triển khai xanh hóa nguồn lực trong các DNNVV tại Việt Nam; và (3) Đề xuất các hàm ý chính sách và quản trị nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển từ các hoạt động rời rạc sang một chiến lược chuyển đổi xanh mang tính hệ thống và bền vững.

Khái quát về xanh hóa nguồn lực của doanh nghiệp

Xanh hóa nguồn lực trong doanh nghiệp có thể được hiểu như một quá trình chiến lược tái cấu trúc toàn diện các nguồn lực hữu hình và vô hình theo hướng thân thiện môi trường, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và từng bước hình thành các năng lực xanh cốt lõi trong hoạt động kinh doanh (Hart, 1995; Teece, 2007). Thông qua quá trình này, doanh nghiệp từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và ô nhiễm, đồng thời hình thành các năng lực xanh mang tính động, cho phép thích ứng và tạo lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh chuyển đổi xanh.

Hiện nay, chuyển đổi xanh đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với các DNNVV, xanh hóa nguồn lực không chỉ là một hoạt động hỗ trợ mà giữ vai trò trung tâm, mang tính quyết định đối với toàn bộ quá trình chuyển đổi. Có thể làm rõ vai trò này trên 2 phương diện: nền tảng cấu trúc và động lực nội sinh cho đổi mới xanh. Về nền tảng cấu trúc, DNNVV cần chuyển dịch từ các nguồn lực truyền thống tiêu tốn nhiều năng lượng, phát thải cao sang các nguồn lực thân thiện môi trường như công nghệ sạch, quy trình sản xuất bền vững, nhân lực có kỹ năng xanh và hệ thống quản trị hướng tới trung hòa carbon (Hart, 1995). Nếu không có sự thay đổi ở cấp độ nguồn lực, các chiến lược, chương trình hay sáng kiến “xanh” của doanh nghiệp dễ chỉ dừng ở mức hình thức, thiếu chiều sâu và khó tạo ra tác động thực chất, lâu dài. Về động lực nội sinh cho đổi mới xanh, khi DNNVV đầu tư vào các nguồn lực xanh như công nghệ sạch, tri thức môi trường, năng lực quản trị bền vững hay vốn trí tuệ xanh, họ đồng thời tạo ra nền tảng cho các hoạt động đổi mới sản phẩm, quy trình và mô hình kinh doanh theo hướng xanh. Theo Hart (1995), các chiến lược phòng ngừa ô nhiễm, quản trị sản phẩm và phát triển bền vững có thể trở thành nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh mới thông qua việc cải thiện hiệu suất sử dụng tài nguyên, giảm chi phí dài hạn và mở ra các thị trường “xanh” tiềm năng. Điều này cho thấy xanh hóa nguồn lực không chỉ là phản ứng thụ động trước áp lực thể chế hay thị trường, mà còn là một chiến lược chủ động tạo lập cơ hội đổi mới và nâng cao giá trị gia tăng cho DNNVV trong quá trình chuyển đổi xanh.

Quá trình xanh hóa nguồn lực được thực hiện thông qua nhiều hoạt động khác nhau trong doanh nghiệp, có thể khái quát xanh hóa nguồn lực qua ba nội dung chính: công nghệ – quy trình xanh, nhân lực – tri thức xanh và quản trị – văn hóa xanh.

Thứ nhất, xanh hóa công nghệ và quy trình thể hiện ở việc doanh nghiệp thay thế hoặc nâng cấp các tài sản vật chất, dây chuyền, thiết bị theo hướng tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, tăng khả năng tái chế và tuần hoàn. Theo Hart (1995), đây là điều kiện để doanh nghiệp chuyển từ mô hình “xử lý ô nhiễm” sang “phòng ngừa ô nhiễm” và quản trị vòng đời sản phẩm, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững gắn với môi trường. Với DNNVV, quyết định đầu tư vào công nghệ sạch phụ thuộc mạnh vào khả năng tiếp cận tài chính xanh, mức độ hỗ trợ kỹ thuật và áp lực thể chế từ các chuẩn mực, quy định môi trường; khi các điều kiện này thuận lợi, doanh nghiệp có động lực mạnh hơn để tái cấu hình nguồn lực công nghệ theo hướng xanh (Teece, 2007). Trong khung năng lực động, đây chính là quá trình doanh nghiệp seizing (nắm bắt cơ hội để huy động nguồn lực) và reconfiguring (tái cấu trúc và làm mới hệ thống tài sản) các tài sản hữu hình để thích ứng với cơ hội thị trường xanh và yêu cầu phát triển bền vững (Teece, 2007).

Thứ hai, xanh hóa nguồn lực nhân lực và tri thức tập trung vào việc tích hợp yếu tố môi trường vào toàn bộ vòng đời quản trị nhân sự, từ tuyển dụng, đào tạo, đánh giá đến đãi ngộ, qua đó hình thành đội ngũ nhân sự có nhận thức, kỹ năng và hành vi xanh. Các thực hành quản trị nhân lực xanh (Green HRM) như tuyển dụng ưu tiên năng lực môi trường, đào tạo kỹ năng sản xuất sạch hơn, khuyến khích sáng kiến tiết kiệm tài nguyên… góp phần xây dựng “vốn trí tuệ xanh” và hỗ trợ đổi mới xanh trong DNNVV. Nghiên cứu cho thấy quản trị nhân lực xanh tác động tích cực đến đổi mới xanh và hiệu quả bền vững, thông qua việc nâng cao động lực và năng lực tham gia của nhân viên vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Dưới góc nhìn năng lực động, đây là nền tảng để doanh nghiệp phát triển các năng lực sensing (nhận diện các thay đổi và cơ hội từ môi trường) và seizing (huy động nguồn lực để khai thác cơ hội) cơ hội xanh thông qua tri thức và kỹ năng của đội ngũ, từ đó nâng cao khả năng thích ứng và đổi mới gắn với mục tiêu môi trường (Teece, 2007).

Thứ ba, xanh hóa quản trị và văn hóa doanh nghiệp thể hiện qua việc doanh nghiệp thiết kế lại cấu trúc, cơ chế, chính sách và giá trị tổ chức theo định hướng bền vững, bảo đảm các quyết định chiến lược luôn gắn với mục tiêu môi trường. Việc hình thành văn hóa tổ chức xanh và lãnh đạo xanh giúp “nội hóa” các giá trị bền vững, tạo khuôn khổ thể chế nội bộ để duy trì và lan toả các thực hành xanh trong toàn bộ hệ thống hoạt động của DNNVV. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng văn hóa tổ chức xanh và hành vi công dân tổ chức vì môi trường đóng vai trò trung gian quan trọng, làm rõ cách thức quản trị nhân lực xanh chuyển hóa thành kết quả bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường. Ở góc độ năng lực động, cấu trúc quản trị và văn hóa xanh chính là “hạ tầng thể chế” nội bộ cho phép doanh nghiệp liên tục tái cấu hình nguồn lực, thử nghiệm và triển khai các đổi mới định hướng bền vững một cách linh hoạt (Teece, 2007).

Như vậy, xanh hóa nguồn lực không chỉ là tập hợp các hoạt động rời rạc, mà là một tiến trình chiến lược, trong đó công nghệ – quy trình, nhân lực – tri thức và quản trị – văn hóa được tái cấu trúc đồng bộ dưới áp lực và sự hỗ trợ từ môi trường thể chế, thị trường và tài chính xanh. Đối với DNNVV, mức độ xanh hóa nguồn lực vì thế phụ thuộc vào năng lực động của doanh nghiệp trong việc nhận diện cơ hội và rủi ro xanh, huy động và tái cấu hình các nguồn lực phù hợp, cũng như khả năng xây dựng một nền tảng tổ chức và nhân sự đủ vững để duy trì và khuếch tán các thực hành xanh trong dài hạn (Hart, 1995; Teece, 2007).

Thực trạng thực hiện xanh hóa nguồn lực trong các DNNVV ở Việt Nam

Thực trạng xanh hóa công nghệ và quy trình sản xuất

Xanh hóa nguồn lực công nghệ và quy trình trong các DNNVV ở Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận nhưng mức độ còn phân tán và chưa trở thành thực hành phổ biến trên diện rộng. Các kết quả hiện nay chủ yếu tập trung ở một số ngành thâm dụng năng lượng và có áp lực hội nhập cao như dệt may, chế biến nông sản, dịch vụ lưu trú và một số cụm DNNVV đô thị tham gia các chương trình hỗ trợ quốc tế (SWITCH-Asia Programme, 2014).

Nhiều DNNVV tham gia các chương trình sản xuất sạch hơn và hiệu quả tài nguyên (do UNIDO, UNEP, SWITCH-Asia, VNCPC hỗ trợ) đã áp dụng các giải pháp công nghệ tiết kiệm năng lượng, nước và nguyên liệu. Dự án MEET-BIS – Mainstreaming Energy Efficiency tại 750 DNNVV Việt Nam cho thấy các gói giải pháp công nghệ tiết kiệm năng lượng và nước có thể giúp doanh nghiệp giảm 20-50% tiêu thụ năng lượng, tuỳ ngành và mức độ đầu tư (SWITCH-Asia, 2014). Kết quả nghiên cứu về DNNVV áp dụng hệ thống quản lý môi trường (EMS) tại Việt Nam cho thấy những doanh nghiệp có chứng chỉ EMS tiết kiệm được đáng kể điện, nhiên liệu và nước tính trên mỗi đơn vị sản phẩm, qua đó giảm chi phí và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên (Christmann và Taylor, 2015).

Trong ngành dệt may – một lĩnh vực có mật độ DNNVV lớn – đổi mới công nghệ và cải tiến kỹ thuật đã mang lại kết quả cụ thể về xanh hóa quy trình. Ví dụ, các doanh nghiệp thay thế thiết bị cũ tiêu hao điện bằng máy móc có biến tần, cải thiện hệ thống khí nén, tối ưu hóa chiếu sáng tự nhiên và lắp đặt điện mặt trời mái nhà đã giúp tiết kiệm hàng triệu kWh điện và cắt giảm hàng chục nghìn tấn CO₂ trong giai đoạn 2018-2023, đồng thời giảm mạnh chi phí năng lượng hàng tháng (Vụ Tiết kiệm năng lượng – Bộ Công Thương, 2025). Một số doanh nghiệp dệt may và da giày lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà đã có thể đáp ứng trên 40-60% nhu cầu điện sản xuất, vừa giảm phát thải, vừa nâng cao hình ảnh “xanh” trong chuỗi cung ứng.

Bên cạnh đó, xu hướng “chuyển đổi kép” – kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh – đang tạo thêm động lực cho xanh hóa công nghệ và quy trình ở nhóm DNNVV có năng lực tiếp cận giải pháp số. Dự án Twin Transition Hub do GIZ và các đối tác triển khai tại Việt Nam cho thấy các doanh nghiệp áp dụng nền tảng số để đo lường tiêu thụ năng lượng, quản lý dữ liệu môi trường và tối ưu hóa vận hành đã giảm được chi phí năng lượng, tài nguyên, đồng thời nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu báo cáo ESG từ khách hàng quốc tế (GIZ, n.d).

Nhìn chung, các thành công của xanh hóa nguồn lực công nghệ và quy trình tại DNNVV Việt Nam thể hiện ở 3 khía cạnh chính: (i) Giảm đáng kể cường độ sử dụng năng lượng, nước và nguyên liệu nhờ áp dụng công nghệ sạch và sản xuất sạch hơn; (ii) Cải thiện hiệu quả chi phí và khả năng cạnh tranh, đặc biệt trong các chuỗi cung ứng xuất khẩu đòi hỏi tiêu chuẩn môi trường cao; và (iii) Từng bước hình thành năng lực đo lường, giám sát và tối ưu hóa quy trình dựa trên dữ liệu, gắn kết chuyển đổi số với mục tiêu môi trường. Tuy tỷ lệ DNNVV đạt được các kết quả này còn khiêm tốn so với tổng số DNNVV ở Việt Nam, thực tiễn cho thấy xanh hóa công nghệ và quy trình hoàn toàn khả thi và có thể mang lại lợi ích kinh tế – môi trường đồng thời, nếu được hỗ trợ đúng mức về tài chính, công nghệ và tư vấn kỹ thuật.

Thực trạng xanh hóa nguồn nhân lực

Xanh hóa nguồn nhân lực tại các DNNVV ở Việt Nam hiện nay chủ yếu ở 3 khía cạnh: bước đầu áp dụng thực hành quản trị nhân lực xanh (GHRM), tác động tích cực tới hiệu quả bền vững và đổi mới xanh và sự hỗ trợ ngày càng tăng từ các chương trình chính sách, dự án xanh hỗ trợ doanh nghiệp. Một bộ phận DNNVV đã bắt đầu coi nguồn nhân lực xanh là đòn bẩy cho năng lực đổi mới, chứ không chỉ là công cụ tuân thủ. Tại TP. Hồ Chí Minh, nghiên cứu của Nguyễn (2023) với 393 nhà quản lý cấp cao tại DNNVV sản xuất trên địa bàn cho thấy các thực hành GHRM (tuyển dụng xanh, đào tạo xanh, đãi ngộ cho đổi mới xanh) có tác động tích cực đáng kể tới vốn trí tuệ xanh (green intellectual capital) và đổi mới xanh (green innovation) của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu triển khai các hoạt động như tuyển dụng chú trọng nhận thức môi trường, đào tạo về tiết kiệm năng lượng và sản xuất sạch hơn, gắn tiêu chí môi trường vào đánh giá hiệu suất và khen thưởng sáng kiến xanh (Trinh và cộng sự, 2025).

Tuy vậy, các thành công trên vẫn mới dừng ở phạm vi một nhóm DNNVV có mức độ hội nhập cao hoặc hưởng lợi trực tiếp từ các chương trình hỗ trợ. Phần lớn DNNVV chưa xây dựng được hệ thống GHRM bài bản; xanh hóa nguồn nhân lực thường mới dừng ở mức nâng cao nhận thức chứ chưa đi sâu vào thiết kế lại toàn bộ chu trình nhân sự (tuyển dụng – đào tạo – đánh giá – đãi ngộ) theo định hướng xanh. Bối cảnh thị trường lao động cũng tạo ra giới hạn khách quan, như UN và UNDP cảnh báo rằng, đến năm 2030 có thể tới 60% thanh niên Việt Nam thiếu kỹ năng cần thiết để tham gia nền kinh tế xanh, cho thấy nguồn cung nhân lực xanh chưa theo kịp nhu cầu chuyển đổi (UNDP, 2023).

Nhìn chung, xanh hóa nguồn nhân lực tại DNNVV Việt Nam vẫn mới là giai đoạn khởi đầu. Để xanh hóa nguồn nhân lực trở thành động lực trung tâm cho chuyển đổi xanh của khu vực DNNVV, cần mở rộng phạm vi áp dụng GHRM, tăng cường đầu tư vào đào tạo kỹ năng xanh, và gắn chặt hơn các công cụ quản trị nhân sự với mục tiêu ESG trong dài hạn.

Thực trạng xanh hóa quản trị và văn hóa doanh nghiệp

Những năm gần đây, xanh hóa quản trị và văn hóa ở DNNVV Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa vai trò để đóng vai trò là “năng lực động” trong chuyển đổi xanh. Quá trình này thể hiện ở việc các DNNVV điều chỉnh tư duy, cấu trúc và quy tắc vận hành để cảm nhận, nắm bắt và tái cấu hình nguồn lực theo yêu cầu bền vững mới.

Một số DNNVV, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp xuất khẩu, đã bắt đầu lồng ghép các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị (ESG) vào hệ thống quản trị và vận hành. Báo cáo đánh giá thực hành kinh doanh bền vững theo khung ESG do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) và USAID thực hiện năm 2024 cho thấy khoảng 26-30% DNNVV đã bước đầu triển khai các hoạt động liên quan đến ESG, dù còn ở mức độ khác nhau và cần được hoàn thiện. Các doanh nghiệp này đã xây dựng bộ chỉ tiêu môi trường cơ bản (tiêu thụ năng lượng, nước, phát thải), lồng ghép yêu cầu tuân thủ môi trường vào hợp đồng, quy trình nội bộ, và bắt đầu có báo cáo ESG đơn giản phục vụ khách hàng, nhà đầu tư. Ở cấp độ hệ thống, việc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hội đồng Doanh nghiệp vì sự Phát triển Bền vững (VBCSD) xây dựng Bộ chỉ số doanh nghiệp bền vững (CSI) và Chương trình đánh giá – xếp hạng doanh nghiệp bền vững từ năm 2016 đã tạo ra một mô hình quản trị bền vững, khuyến khích cả doanh nghiệp lớn và DNNVV đưa tiêu chí ESG vào quản lý. Nhiều DNNVV khi tham gia chương trình này đã phải rà soát lại chiến lược, quy trình quản trị rủi ro, hệ thống kiểm soát nội bộ và tương tác với các bên liên quan theo hướng minh bạch, có trách nhiệm hơn. Đây là những bước đi quan trọng của xanh hóa quản trị để phù hợp với các chuẩn mực bền vững (VCCI, 2025).

Về văn hóa, một xu hướng tích cực là sự hình thành các giá trị và chuẩn mực xanh trong một bộ phận DNNVV, nhất là các doanh nghiệp trẻ, khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp cung ứng cho các tập đoàn quốc tế. Các nghiên cứu về quản trị nhân lực xanh và hiệu quả bền vững cho thấy văn hóa tổ chức xanh và hành vi công dân tổ chức vì môi trường đóng vai trò trung gian quan trọng giữa GHRM và hiệu quả bền vững của DNNVV tại TP. Hồ Chí Minh (Trinh và cộng sự, 2025). Bên cạnh đó, trong bối cảnh chuyển đổi kép, một số chương trình như Vietnam ESG Initiative, Twin Transition Partnership đã thúc đẩy nhận thức rằng chuyển đổi xanh không chỉ là câu chuyện công nghệ mà còn là chuyện tư duy, văn hóa và mô hình quản trị. Lãnh đạo doanh nghiệp được khuyến khích dịch chuyển từ tư duy tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn sang tư duy giá trị bền vững dài hạn, xem ESG như “hộ chiếu” để tồn tại trong kỷ nguyên mới với cam kết của Việt Nam đạt phát thải ròng bằng 0 năm 2050. Điều này đang dần hình thành một lớp doanh nhân DNNVV coi xanh hóa quản trị và văn hóa là trục chiến lược, chứ không chỉ là gánh nặng tuân thủ (Nguyen, 2025).

Mặc dù đã có những chuyển biến bước đầu về xanh hóa quản trị doanh nghiệp và văn hóa, nhưng DNNVV Việt Nam vẫn đối mặt nhiều hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp mới dừng ở mức “nhận thức” về ESG, cam kết chung, nhưng chưa xây dựng được cấu trúc quản trị ESG rõ ràng, từ phân công trách nhiệm đến cơ chế giám sát, báo cáo. Nhiều khảo sát cho thấy đa số DNNVV thiếu hiểu biết hệ thống về ESG, lúng túng giữa nhiều bộ tiêu chuẩn và bộ chỉ số khác nhau (như CSI, VNSI, ISO 26000…), nên xanh hóa quản trị chủ yếu mang tính hình thức, thiên về đối phó hơn là tái cấu trúc chiến lược và mô hình kinh doanh. Ở cấp độ văn hóa, nhiều doanh nghiệp vẫn ưu tiên chỉ tiêu tài chính ngắn hạn, phong cách quản trị truyền thống, ngại thay đổi, chưa coi các giá trị xanh, minh bạch, trách nhiệm là chuẩn mực cốt lõi; điều này làm cho các chính sách “xanh” khó chuyển hóa thành hành vi thường ngày trong tổ chức (Vũ Lê Đình Hoàng, 2025).

Hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy xanh hóa nguồn lực trong các DNNVV tại Việt Nam

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, xanh hóa nguồn lực trong khu vực DNNVV không còn là lựa chọn mà trở thành điều kiện cần để duy trì năng lực cạnh tranh và tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Các phân tích thực trạng cho thấy quá trình này mới ở giai đoạn khởi đầu, diễn ra không đồng đều giữa ba nhóm nguồn lực con người – tri thức, công nghệ – quy trình và quản trị – văn hóa, với nhiều rào cản về thể chế, tài chính, năng lực và văn hóa tổ chức. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số nhóm giải pháp chính sách trọng tâm sau:

Một là, hoàn thiện khung thể chế và công cụ định hướng xanh hóa nguồn lực cho DNNVV. Cần cụ thể hóa Chiến lược tăng trưởng xanh, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu và các cam kết Net-Zero thành lộ trình, chỉ tiêu và bộ hướng dẫn riêng cho DNNVV theo từng ngành và vùng, khắc phục tình trạng định hướng chung chung, khó vận dụng ở cấp DNNVV. Việc đơn giản hóa và hài hòa các bộ tiêu chí, khung ESG và bộ chỉ số bền vững (như CSI) sẽ giúp DNNVV có một “bộ chuẩn” khả thi để định hướng tái cấu hình nguồn lực theo hướng xanh, giảm tính hình thức trong áp dụng ESG như các nghiên cứu và khảo sát gần đây đã chỉ ra.

Hai là, phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng xanh cho DNNVV. Trước khoảng cách lớn giữa nhu cầu và năng lực cung ứng kỹ năng xanh (khi UNDP cảnh báo đến năm 2030 có thể tới 60% thanh niên Việt Nam thiếu kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế xanh), chính sách cần tập trung tích hợp nội dung xanh và ESG vào chương trình giáo dục nghề, đại học và các chương trình đào tạo lại lao động trong các ngành tập trung nhiều DNNVV. Bên cạnh đó, các chương trình hỗ trợ như Vietnam ESG Initiative nên được thiết kế theo hướng cung cấp bộ công cụ GHRM cho DNNVV (tiêu chí tuyển dụng, mô-đun đào tạo, khung đánh giá và đãi ngộ gắn với năng lực xanh), qua đó chuyển xanh hóa nguồn nhân lực từ mức “nâng cao nhận thức” sang mức tái cấu trúc toàn bộ chu trình quản trị nhân sự.

Ba là, thúc đẩy đầu tư và chuyển đổi kép trong nguồn lực công nghệ – quy trình. Thực tiễn từ các dự án như MEET-BIS cho thấy đầu tư vào công nghệ tiết kiệm năng lượng có thể giúp DNNVV giảm 20-50% tiêu thụ năng lượng, song việc nhân rộng còn hạn chế do rào cản tài chính và năng lực kỹ thuật. Vì vậy, Chính phủ cần phát triển các gói tín dụng xanh, cơ chế bảo lãnh tín dụng và quỹ hỗ trợ đầu tư công nghệ sạch dành riêng cho DNNVV, đi kèm dịch vụ tư vấn đánh giá hiệu quả – rủi ro công nghệ, nhằm giảm chi phí giao dịch và tâm lý e ngại thay đổi tại các doanh nghiệp này. Các chương trình chuyển đổi số cho DNNVV cần lồng ghép tiêu chí xanh, hỗ trợ DNNVV ứng dụng nền tảng số để đo lường tiêu thụ tài nguyên – phát thải và tối ưu hóa quy trình, qua đó hiện thực hóa “chuyển đổi kép” số – xanh trong thực tiễn.

Bốn là, giải pháp xây dựng năng lực quản trị và văn hóa tổ chức xanh, gắn với hệ sinh thái hỗ trợ. Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ phát triển các bộ công cụ tự đánh giá mức độ xanh hóa nguồn lực và triển khai ESG với cấu trúc đơn giản, phù hợp năng lực quản trị của DNNVV, kèm theo hướng dẫn cải thiện theo từng bước, để doanh nghiệp có thể vận dụng ngay trong thực tiễn hoạt động của mình. Đồng thời, việc mở rộng các chương trình như Bộ chỉ số doanh nghiệp bền vững (CSI), Vietnam ESG Initiative cần theo hướng nhấn mạnh đào tạo lãnh đạo, xây dựng văn hóa tổ chức xanh và cơ chế khuyến khích hành vi, sáng kiến xanh của người lao động sẽ tạo nền tảng văn hóa nội sinh cho xanh hóa nguồn lực. Bên cạnh đó, Chính phủ khuyến khích các mô hình hợp tác chuỗi – trong đó doanh nghiệp lớn, FDI và các khách hàng quốc tế đồng hành hỗ trợ DNNVV về công nghệ, quản trị và tài chính – cùng với thí điểm cụm/khu công nghiệp xanh dùng chung hạ tầng xử lý chất thải, năng lượng tái tạo và dữ liệu môi trường, có thể tạo ra hệ sinh thái thuận lợi để DNNVV giảm chi phí và rủi ro trong quá trình xanh hóa nguồn lực.

ThS Nguyễn Việt Dũng – Viện Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
TS Ngô Thị Ngọc Anh – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 

Tài liệu tham khảo:
1. Christmann, P., & Taylor, G. (2015). Greening industry in Vietnam: Environmental management standards and resource efficiency in DNNVV. Journal article.​
2. European Commission (2014). Mainstreaming energy efficiency through business innovation support (MEET‑BIS): Impact sheet – Vietnam. SWITCH‑Asia Programme.​
3. GIZ (n.d.). Shaping green and digital transformation together: Digitalisation and innovation for climate and environment protection – Twin Transition Hub. Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH.​
4. Hart, S. L. (1995). A natural-resource-based view of the firm. Academy of Management Review, 20(4), 986-1014.​
5. Ministry of Industry and Trade (2025). Energy efficiency and sustainable development in textile sector.​
6. Nguyen, D. T. L. (2023). Green human resource management, green intellectual capital and green innovation in Vietnamese manufacturing DNNVV. Science & Technology Development Journal – Economics – Law and Management, 7(2), 123-139.​
7. Teece, D. J. (2007). Explicating dynamic capabilities: The nature and microfoundations of (sustainable) enterprise performance. Strategic Management Journal, 28(13), 1319-1350.​
8. Trinh, D. T. L., Ho, T. H. M., & Dinh, T. T. V. (2025). Green human resource management and sustainable performance of small and medium enterprises in Ho Chi Minh City. Journal of Development and Integration, 82, 84-92. https://doi.org/10.61602/jdi.2025.82.11​
9. UNIDO, UNEP, & Vietnam Cleaner Production Centre (VNCPC). (n.d.). National Cleaner Production Centre Programme and resource efficient and cleaner production initiatives in Viet Nam.
10. United Nations Development Programme (2023, August 11). Green skills education for youth is key to the green transition in Viet Nam.​
11. Viet Nam Government (2021). National green growth strategy for the 2021-2030 period, vision to 2050.​
12. Vũ Lê Đình Hoàng (2025). Thực hành ESG tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức với các doanh nghiệp. Tạp chí Kinh tế và Dự báo online. https://kinhtevadubao.vn/thuc-hanh-esg-tai-viet-nam-co-hoi-va-thach-thuc-voi-cac-doanh-nghiep-31301.html
13. Vietnam Chamber of Commerce and Industry (n.d.). Corporate Sustainability Index (CSI) and guidance documents of Vietnam Business Council for Sustainable Development (VBCSD).​
14. Agency for Enterprise Development, Ministry of Planning and Investment, & United States Agency for International Development (2024). Baseline assessment report on ESG adoption among Vietnamese enterprises. Improving Private Sector Competitiveness (IPSC) Project.​
TAGGED:doanh nghiệp nhỏ và vừaSMEsxanh hóa nguồn lực
SOURCES:Tạp chí Kinh tế - Tài chính
Previous Article Trở lại với than hay tăng tốc nguồn năng lượng tái tạo?
Leave a review Leave a review

Leave a Review Hủy

Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.

Mới cập nhật

Trở lại với than hay tăng tốc nguồn năng lượng tái tạo?

Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn

Trung Quốc: Tăng tốc chuyển đổi xanh, mục tiêu giảm 17% lượng phát thải CO2

Cổ phiếu điện – lựa chọn tiềm năng với từng câu chuyện riêng lẻ!

Sản phẩm thiên nhiên Việt Nam trong hành trình Net Zero – Bài 2: Nhận diện những điểm nghẽn trong lộ trình “xanh hóa”

Đánh thức tiềm năng năng lượng sinh khối: Hướng đi chiến lược cho mục tiêu Net Zero của Việt Nam

Mở “cánh cửa” trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon

Petrolimex nghiên cứu đầu tư nhà máy dầu tái sinh từ rác thải

Sản phẩm thiên nhiên Việt Nam trong hành trình Net Zero – Bài 1: Xu hướng tiêu dùng xanh

TP.HCM: Cần chuyển đổi từ chính sách đến hạ tầng khi phát triển giao thông phát thải thấp

Xem thêm

Bài viếtDoanh nghiệpNăng lượng

Thúc đẩy sử dụng năng lượng xanh trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

NetZero.VN 15/03/2026
Bài viếtDoanh nghiệpPhát triển bền vững

Playbook mua sắm xanh cho SMEs: Từ chi phí sang lợi ích

The Saigon Times 25/09/2025
Bài viếtDoanh nghiệpPhát triển bền vững

Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong “thế lưỡng nan” chuyển đổi xanh

NetZero.VN 15/09/2025
Bài viếtChính sáchTài nguyên & Môi trường

Kiểm kê khí nhà kính – Minh bạch để phát triển bền vững / Bài 2: Bài toán khó cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

NetZero.VN 25/07/2025
Facebook Youtube Instagram Tiktok X-twitter Linkedin
NETZERO.VN
  • Giới thiệu
  • Đội ngũ
  • Đối tác
  • Liên hệ
  • Quảng cáo
Thông tin
  • Dự án
  • Multimedia
  • Diễn đàn
  • Tuyển dụng
  • Newsletter

Đăng kí miễn phí

Theo dõi bản tin của chúng tôi

Tham gia cộng đồng
© 2025 NetZero.VN | Net Zero VietNam JSC. All Rights Reserved.
Welcome Back!

Sign in to your account

Username or Email Address
Password

Lost your password?