
PV: Việt Nam đã đặt mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 và đạt phát thải ròng bằng không (net-zero) vào năm 2050. Theo ông, tài chính xanh đóng vai trò thế nào trong việc dung hòa 2 mục tiêu này?
Ông David Ambadar: – Tăng trưởng kinh tế và mục tiêu net-zero không hề loại trừ lẫn nhau. Nhìn vào ngành năng lượng, có thể thấy, không còn sự đánh đổi nào ở đây nữa. Khả năng cạnh tranh về chi phí của năng lượng tái tạo đã là một thực tế hiện hữu. Do đó, năng lượng sạch là một phương án kinh doanh thực thụ và thế giới đang đổ vốn vào lĩnh vực này.
Thông điệp rất rõ ràng: Việt Nam có thể tăng trưởng trong khi vẫn giảm thiểu tổng lượng dấu chân carbon. Việc doanh nghiệp hoạt động bền vững và sử dụng năng lượng tái tạo sẽ mang lại lợi ích kinh tế. Các ngân hàng cũng đã nhận ra điều này. Tỷ lệ tín dụng xanh tại Việt Nam đã tăng trưởng đều đặn trong những năm qua.
Những năm gần đây, Việt Nam đã ban hành các chiến lược quan trọng như Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII. Theo ông, những công cụ tài chính nào nên được ưu tiên để giúp thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực thi thực tế?
– Trong những năm qua, Việt Nam đã và đang tăng cường các chính sách về khí hậu, mở rộng thu hút đầu tư, phát triển năng lượng tái tạo và thúc đẩy nền kinh tế xanh. Cụ thể, Việt Nam đã ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030 và điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030 (Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh).
Việc hiện thực hóa các mục tiêu này đòi hỏi nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn triển khai. Do vậy, để thúc đẩy chuyển đổi xanh, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường thực thi chính sách, hoàn thiện các công cụ tài chính và nâng cao năng lực cho các tổ chức tài chính và doanh nghiệp trong lĩnh vực đầu tư xanh.
Chúng ta cần nguồn vốn dài hạn hơn với việc định giá tốt hơn các rủi ro khí hậu và các tác động môi trường và xã hội phát sinh. Việt Nam cũng cần nguồn vốn vay với lãi suất rẻ hơn bằng tiền Việt, đặc biệt là huy động từ các nguồn lực nước ngoài. Phần lớn quá trình chuyển dịch năng lượng trên toàn thế giới được tài trợ thông qua các công cụ nợ, chủ yếu là trái phiếu. Khoảng 60% tổng nguồn vốn này đến từ khu vực tư nhân.
Một công cụ khác được nhiều quốc gia vận hành thành công để hóa giải thách thức này chính là thị trường carbon tuân thủ. Ví dụ, EU đã huy động được hơn 200 tỷ Euro trong những năm qua, phần lớn trong số đó đã được tái đầu tư và sử dụng cho các mục đích khí hậu và năng lượng sạch tại các quốc gia thành viên.

Bộ Tài chính cùng các đối tác vừa khởi động dự án “Chuyển dịch đầu tư theo hướng chuyển đổi xanh” (SHIFT). Xin ông cho biết, điều gì tạo nên sự khác biệt giữa SHIFT và các chương trình hỗ trợ tài chính xanh trước đây, đặc biệt là trong việc thực hiện các khoản đầu tư xanh, thay vì chỉ dừng lại ở các khung chính sách?
– Tăng trưởng xanh và chuyển dịch năng lượng là bài toán chung của cả quốc gia, đòi hỏi sự vào cuộc của tất cả các bên. Chúng ta cần thay đổi tư duy làm kinh tế theo lối mòn cũ. Với tinh thần đó, SHIFT đang đóng vai trò là mô hình tiên phong. Đây là dự án quy tụ sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý và các đối tác thực hiện. Dự án phát huy thế mạnh riêng biệt của mỗi tổ chức để cùng hướng tới mục tiêu chung; đồng thời kế thừa những thành quả sẵn có, kết nối các nguồn lực để giải quyết những vấn đề còn tồn đọng.
SHIFT làm việc trực tiếp với các cơ quan quản lý tài chính then chốt tại Việt Nam. SHIFT hoạt động trực tiếp trên thị trường với các tổ chức tài chính – bên cung cấp tài chính xanh và các doanh nghiệp – bên có nhu cầu tài chính xanh. SHIFT phân loại giữa các cấp độ ngân hàng khác nhau và các quy mô doanh nghiệp khác nhau. Do đó, dự án có vị thế độc nhất để giải quyết nhu cầu thị trường, giúp các tác nhân hiểu nhau hơn và làm phong phú việc thực thi chính sách bằng những bài học thực tiễn từ thị trường.
SHIFT ra đời rất đúng thời điểm, phù hợp với các Nghị quyết chiến lược gần đây của Bộ Chính trị (như Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045…), thực hiện Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh, Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch carbon trong nước vừa ban hành trong tháng 1/2026.
Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất khiến các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn ngần ngại tiếp cận tài chính xanh và đầu tư vào các dự án năng lượng sạch? Trong bối cảnh đó, ông kỳ vọng vai trò của các tổ chức tài chính và ngân hàng thay đổi như thế nào để trở thành chất xúc tác cho tăng trưởng xanh và chuyển dịch năng lượng?
– Xét về mục tiêu và yêu cầu, các ngân hàng và doanh nghiệp nhỏ và vừa khá khác biệt. Vì vậy, đôi bên thường thiếu đi sự thấu hiểu lẫn nhau một cách rõ ràng.
Nhu cầu tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa thường nhỏ hơn mức vay tối thiểu mà các ngân hàng truyền thống đưa ra. Ngoài ra, các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc cung cấp tài sản thế chấp mà ngân hàng có thể chấp nhận. Hơn nữa, các doanh nghiệp nhỏ thường thấy các yêu cầu báo cáo và chi phí đầu tư ban đầu cao là một thách thức. Đây là thực tế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung, không chỉ riêng tài chính xanh.
Trong khi đó, phía ngân hàng thường thiếu các hướng dẫn kỹ thuật địa phương hóa và các giải pháp tài chính được thiết kế riêng biệt để hỗ trợ các công ty nhỏ thực hiện chuyển đổi. Thêm vào đó, những tham vọng về bền vững và môi trường – xã hội – quản trị (ESG) của ban lãnh đạo cấp cao ngân hàng không dễ dàng chuyển hóa thành những thay đổi thực sự trong hoạt động cho vay, quản trị rủi ro và lợi nhuận.
Cuối cùng, chúng ta cần chứng minh cho cả doanh nghiệp và ngân hàng thấy rằng, đầu tư vào các công nghệ chuyển đổi xanh, đặc biệt là công nghệ chuyển dịch năng lượng, không phải là một công việc kinh doanh rủi ro, mà là một cơ hội đầu tư sinh lời. Chúng ta cần những cánh chim đầu đàn dẫn dắt, từ đó thúc đẩy sự chuyển mình của toàn bộ thị trường.
Dự án SHIFT tại Việt Nam có thời gian thực hiện 4 năm với ngân sách 15 triệu EUR, được Bộ Môi trường, Hành động khí hậu, Bảo tồn thiên nhiên và An toàn hạt nhân Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ, thông qua Sáng kiến khí hậu quốc tế (IKI).
Dự án do Bộ Tài chính làm cơ quan chủ quản, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan phối hợp thực hiện. Liên minh các đối tác thực hiện dự án bao gồm: Học viện Ngân hàng, Agora Energiewende, Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ), Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP).
Luyện Vũ (thực hiện)
