By using this site, you agree to the Privacy Policy and Terms of Use.
Accept
NetZero.VN - Net Zero Viet NamNetZero.VN - Net Zero Viet NamNetZero.VN - Net Zero Viet Nam
  • Tiếng Việt
    • Tiếng Việt
    • English
  • Trang chủ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Thế giới
    • Sự kiện
    • Cà phê Net Zero
    • Meet The Experts
    • Net Zero Talks
    • Diễn đàn
    • Tuyển dụng
  • Bài viết
  • Lĩnh vực
    • Chính sách
    • Công nghiệp
    • Giáo dục & Truyền thông
    • Khoa học & Công nghệ
    • Năng lượng
    • Nông – Lâm nghiệp
    • Phát triển bền vững
    • Tài chính
    • Tài nguyên & Môi trường
    • Văn hóa, Thể thao, Du lịch
    • Xây dựng & Giao thông
    • Các lĩnh vực khác
  • Địa phương
    • Bắc Ninh
    • Cà Mau
    • Đà Nẵng
    • Đắk Lắk
    • ĐBSCL
    • Đồng Nai
    • Gia Lai
    • Hà Nội
    • Hải Phòng
    • Huế
    • Khánh Hòa
    • Lào Cai
    • Nghệ An
    • Quảng Ninh
    • Quảng Trị
    • TP Hồ Chí Minh
  • Doanh nghiệp
    • Dự án
    • Thị trường carbon
    • Thông tin doanh nghiệp
  • Tài liệu
    • Bài thuyết trình
    • Báo cáo
    • Sách / Kỷ yếu
    • Văn bản pháp luật
  • Multimedia
    • Podcasts
    • Videos
Notification Show More
Font ResizerAa
NetZero.VN - Net Zero Viet NamNetZero.VN - Net Zero Viet Nam
Font ResizerAa
  • Tiếng Việt
    • Tiếng Việt
    • English
  • Trang chủ
  • Tin tức / Sự kiện
    • Thế giới
    • Sự kiện
    • Cà phê Net Zero
    • Meet The Experts
    • Net Zero Talks
    • Diễn đàn
    • Tuyển dụng
  • Bài viết
  • Lĩnh vực
    • Chính sách
    • Công nghiệp
    • Giáo dục & Truyền thông
    • Khoa học & Công nghệ
    • Năng lượng
    • Nông – Lâm nghiệp
    • Phát triển bền vững
    • Tài chính
    • Tài nguyên & Môi trường
    • Văn hóa, Thể thao, Du lịch
    • Xây dựng & Giao thông
    • Các lĩnh vực khác
  • Địa phương
    • Bắc Ninh
    • Cà Mau
    • Đà Nẵng
    • Đắk Lắk
    • ĐBSCL
    • Đồng Nai
    • Gia Lai
    • Hà Nội
    • Hải Phòng
    • Huế
    • Khánh Hòa
    • Lào Cai
    • Nghệ An
    • Quảng Ninh
    • Quảng Trị
    • TP Hồ Chí Minh
  • Doanh nghiệp
    • Dự án
    • Thị trường carbon
    • Thông tin doanh nghiệp
  • Tài liệu
    • Bài thuyết trình
    • Báo cáo
    • Sách / Kỷ yếu
    • Văn bản pháp luật
  • Multimedia
    • Podcasts
    • Videos
Follow US
© 2023-2025 NetZero.VN | Net Zero VietNam JSC. All Rights Reserved.
NetZero.VN - Net Zero Viet Nam > Lĩnh vực > Tài chính > Thu hút tài chính khí hậu quốc tế vào các lĩnh vực nhằm đạt mục tiêu Net Zero của Việt Nam
Bài viếtTài chính

Thu hút tài chính khí hậu quốc tế vào các lĩnh vực nhằm đạt mục tiêu Net Zero của Việt Nam

Bài viết này phân tích cấu trúc nhu cầu vốn dựa trên dữ liệu từ Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC 2022) và các báo cáo quốc tế để xác định vai trò của tài chính khí hậu quốc tế đối với từng lĩnh vực kinh tế.

NetZero.VN 14/03/2026
SHARE
(Ảnh minh họa: NetZero.VN)

Quá trình chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng carbon thấp tạo ra khoảng trống đầu tư lớn mà nguồn lực nội tại chưa thể đáp ứng. Bài viết này phân tích cấu trúc nhu cầu vốn dựa trên dữ liệu từ Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC 2022) và các báo cáo quốc tế để xác định vai trò của tài chính khí hậu quốc tế đối với từng lĩnh vực kinh tế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự phân hóa sâu sắc về mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn ngoại. Nông nghiệp và công nghiệp có nhu cầu tỷ lệ vốn quốc tế trên vốn tự lực cao nhất, phản ánh nhu cầu cấp thiết về công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật. Lĩnh vực năng lượng thâm dụng vốn lớn nhất, đòi hỏi tới 76% phần vốn tăng thêm từ quốc tế. Ngược lại, lĩnh vực lâm nghiệp thể hiện khả năng tự chủ cao. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất chuyển dịch chiến lược từ thu hút vốn dàn trải sang phân bổ dựa trên hiệu quả đòn bẩy, ưu tiên cho các lĩnh vực phụ thuộc công nghệ; áp dụng tài chính hỗn hợp cho lĩnh vực năng lượng; đồng thời minh bạch hóa danh mục xanh để cải thiện môi trường đầu tư.

Đặt vấn đề

Việt Nam đang đứng trước thời điểm mang tính bước ngoặt, đối mặt với yêu cầu giải quyết đồng thời hai bài toán chiến lược là phấn đấu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 và thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050 theo tuyên bố tại Hội nghị COP26. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên thâm dụng tài nguyên và lao động giá rẻ trước đây đã không còn phù hợp. Thay vào đó, Việt Nam buộc phải thực hiện quá trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng sang hướng bền vững, carbon thấp và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, lộ trình chuyển dịch này đặt ra những thách thức khổng lồ về mặt tài chính. Theo các kịch bản phát thải ròng được xây dựng để định hướng hành động quốc gia, lượng phát thải khí nhà kính của Việt Nam dự báo sẽ đạt đỉnh vào năm 2030 (khoảng 450 triệu tấn CO2tđ) trước khi giảm mạnh xuống 150-200 triệu tấn CO2tđ vào năm 2040. Điều này hàm ý rằng, giai đoạn sau năm 2030 sẽ đòi hỏi những nỗ lực giảm thiểu quyết liệt và tập trung nhất, đi kèm với nhu cầu đầu tư quy mô lớn trên toàn nền kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư; The Boston Consulting Group, 2023).

Mặc dù, tính cấp thiết của chuyển đổi xanh đã được xác định rõ, nhưng khả năng huy động nguồn lực thực tế lại đang có khoảng cách lớn so với nhu cầu. Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới (2022), để đạt được các mục tiêu phát triển và khí hậu đã đề ra, Việt Nam cần khoản đầu tư bổ sung lũy kế khoảng 368 tỷ USD trong giai đoạn 2022-2040, tương đương khoảng 6,8% GDP mỗi năm. Trong đó, nhu cầu vốn cho xây dựng khả năng thích ứng khoảng 254 tỷ USD và nhu cầu cho lộ trình khử carbon là 114 tỷ USD. Nếu xét trong dài hạn đến năm 2050 theo kịch bản tối ưu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư & The Boston Consulting Group (2023), tổng nhu cầu huy động thêm có thể lên tới 872 tỷ USD theo giá trị không chiết khấu.

Trong bối cảnh nguồn lực trong nước, bao gồm vốn đầu tư công và tín dụng ngân hàng còn hạn chế, việc huy động tài chính khí hậu quốc tế không chỉ là một giải pháp bổ sung mà trở thành yếu tố quan trọng để Việt Nam đạt được các mục tiêu giảm phát thải lớn. Dữ liệu từ Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC cập nhật 2022) chỉ ra rằng, với nguồn lực tự có (kịch bản không điều kiện), Việt Nam chỉ có thể giảm 15,8% tổng lượng phát thải vào năm 2030, tương ứng nhu cầu vốn khoảng 21,7 tỷ USD. Tuy nhiên, nếu có sự hỗ trợ quốc tế đầy đủ (kịch bản có điều kiện), mức giảm phát thải có thể nâng lên 43,5%, nhưng nhu cầu tài chính cũng tăng mạnh lên 86,8 tỷ USD (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022). Sự chênh lệch này cho thấy, vai trò đòn bẩy của dòng vốn quốc tế là rất lớn. Vì vậy, việc phân tích cấu trúc nhu cầu vốn giữa các kịch bản không điều kiện và hỗ trợ quốc tế dựa trên dữ liệu từ báo cáo của các cơ quan, tổ chức để xác định các lĩnh vực đòn bẩy và đề xuất các giải pháp thu hút, phân bổ tài chính khí hậu quốc tế hiệu quả nhằm hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của Việt Nam là cần thiết.

Nhu cầu tài chính khí hậu quốc tế tăng thêm phân theo lĩnh vực đến năm 2030

Số liệu ở Bảng 1 cho thấy, có sự chênh lệch đáng kể về nhu cầu tài chính giữa việc duy trì kịch bản phát triển thông thường và việc theo đuổi các mục tiêu khí hậu tham vọng hơn.

Để thực hiện mức đóng góp không điều kiện (giảm 15,8% phát thải vào năm 2030), Việt Nam cần huy động khoảng 21,7 tỷ USD. Đây là nguồn lực dự kiến đến từ ngân sách nhà nước, vốn vay và đầu tư của doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, để đạt được mức đóng góp có điều kiện (giảm 43,5% phát thải vào năm 2030) – kịch bản tiệm cận hơn với lộ trình Net Zero, tổng nhu cầu tài chính tăng mạnh lên khoảng 86,83 tỷ USD (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022). Như vậy, để nâng mức giảm phát thải thêm 27,7 điểm phần trăm, từ 15,8% lên 43,5%, Việt Nam cần huy động thêm nguồn lực từ quốc tế và các nguồn khác khoảng 51,6 tỷ USD. Điều này chỉ ra rằng, phần lớn chi phí cận biên cho các giải pháp giảm phát thải sâu phụ thuộc vào khả năng tiếp cận tài chính quốc tế.

Đi sâu phân tích cơ cấu nhu cầu tài chính cho 5 lĩnh vực chính trong giai đoạn 2021-2030, kết quả cho thấy sự phân hóa rõ rệt về mức độ phụ thuộc vào hỗ trợ quốc tế (Bảng 2).

Số liệu ở Bảng 2 cho thấy, nhu cầu vốn khổng lồ mà còn phán ánh một thực tế quan trọng đó là lộ trình nâng mức cam kết giảm phát thải của Việt bị chi phối mạnh bởi khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Sự phụ thuộc này không đồng đều mà phân hóa sâu sắc giữa các lĩnh vực. Có thể thấy nông nghiệp và công nghiệp (IP) là 2 lĩnh vực có tỷ lệ vốn quốc tế trên vốn tự lực cao nhất, lần lượt là 6,7 lần và 5,3 lần. Sự chênh lệch lớn này không chỉ đơn thuần là vấn đề thiếu hụt tài chính, mà nó phản ánh nhu cầu cấp thiết về công nghệ tiên tiến và thay đổi cấu trúc hạ tầng để tạo ra bước ngoặt giảm phát thải, là những yếu tố mà nguồn lực nội tại chưa thể tự đáp ứng. Cụ thể là:

Thứ nhất, đối với lĩnh vực nông nghiệp: Đây là ngành có mức độ phụ thuộc vào tài chính quốc tế kỷ lục. Với khả năng tự lực chỉ dừng lại ở mức 2,1 tỷ USD, ngành này cần huy động tới 14,0 tỷ USD từ nguồn hỗ trợ quốc tế để đạt mục tiêu có điều kiện. Tỷ lệ đòn bẩy lên tới 6,7 lần có thể được lý giải bởi các nguyên nhân như: Nông nghiệp Việt Nam đặc trưng bởi quy mô nông hộ nhỏ lẻ, manh mún. Việc chuyển đổi sang mô hình phát thải thấp đòi hỏi chi phí đầu tư hạ tầng đồng bộ trên diện rộng, vượt quá khả năng chi trả của từng hộ nông dân hay ngân sách địa phương. Để giảm phát thải khí metan nguồn phát thải chính trong nông nghiệp, cần áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến hay công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp. Những giải pháp này đòi hỏi chuyển giao kỹ thuật và thiết bị từ các nước phát triển.

Thứ hai, đối với các lĩnh vực công nghiệp (IP): Mặc dù quy mô vốn tuyệt đối không lớn, nhưng tỷ lệ đòn bẩy của ngành này rất cao (gấp 5,3 lần), với nguồn vốn tự lực chỉ có 0,3 tỷ USD so với nhu cầu hỗ trợ quốc tế là 1,6 tỷ USD. Khác với lĩnh vực năng lượng có thể chuyển sang điện gió/mặt trời, phát thải trong các quá trình công nghiệp (như sản xuất xi măng, hóa chất, thép) sinh ra từ phản ứng hóa học của nguyên liệu. Để khử lượng carbon này, các giải pháp cải thiện hiệu suất thông thường (vốn tự lực 0,3 tỷ USD có thể đáp ứng) là không đủ. Phần nhu cầu 1,6 tỷ USD từ quốc tế chính là chi phí để nhập khẩu và áp dụng các công nghệ có chi phí cao, như thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) hoặc chuyển đổi sang công nghệ sản xuất thép xanh bằng hydro. Đây là những công nghệ mà doanh nghiệp Việt Nam chưa làm chủ được và chi phí đầu tư ban đầu quá cao, nếu không có hỗ trợ tài chính khí hậu. Ngành sản xuất xi măng – nguồn phát thải lớn trong nhóm IP – đang đối mặt với áp lực chuyển đổi công nghệ nung clinker và sử dụng phụ gia thay thế để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế (như CBAM của châu Âu). Các dự án thử nghiệm thu hồi nhiệt thừa hay chuyển đổi nhiên liệu trong lò nung hiện nay phần lớn đều gắn liền với các khoản vay hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế như JICA hay UNDP.

Trong bức tranh tổng thể về nhu cầu tài chính khí hậu đến năm 2030, năng lượng không chỉ là lĩnh vực thâm dụng vốn lớn nhất về quy mô tuyệt đối mà còn là nơi diễn ra sự chuyển dịch dòng vốn mạnh mẽ nhất từ nội lực sang ngoại lực. Số liệu cho thấy, để nâng mức đóng góp từ kịch bản tự lực (14,5 tỷ USD) lên kịch bản có điều kiện (60,6 tỷ USD), ngành năng lượng cần huy động thêm một lượng vốn khổng lồ là 46,1 tỷ USD từ quốc tế. Tỷ lệ vốn quốc tế so với vốn tự lực là 3,2 lần, đồng nghĩa với việc dòng vốn ngoại phải gánh vác hơn 75% phần nhu cầu tăng thêm. Sự chênh lệch và phụ thuộc này xuất phát từ những nguyên nhân cốt lõi sau:

Thứ nhất, chi phí chuyển đổi công nghệ nguồn điện: Đây là rào cản then chốt trong lộ trình thực hiện mục tiêu Net Zero của Việt Nam. Nguồn vốn tự lực khoảng 14,5 tỷ USD chủ yếu phản ánh khả năng duy trì, cải tạo và mở rộng có chọn lọc các nguồn điện hiện hữu hoặc các công nghệ phát điện truyền thống đã tương đối hoàn thiện về mặt thương mại như thủy điện nhỏ và nhiệt điện khí trong nước. Trong khi đó, quá trình loại bỏ dần các dự án nhiệt điện than và thay thế bằng các nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn đòi hỏi mức đầu tư vượt xa năng lực tài chính nội tại của hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp trong nước. Đặc biệt, điện gió ngoài khơi không chỉ có suất đầu tư rất lớn (cao gấp 2–3 lần so với điện than truyền thống) mà còn đòi hỏi công nghệ thi công phức tạp, chuỗi cung ứng chuyên biệt và năng lực quản trị rủi ro cao trong suốt vòng đời dự án. Theo Quy hoạch điện VIII, mục tiêu phát triển 6.000 MW điện gió ngoài khơi đến năm 2030 đặt ra áp lực vốn cực kỳ lớn, vượt quá khả năng cấp tín dụng dài hạn của các ngân hàng thương mại trong nước do hạn chế về quy mô vốn, kỳ hạn cho vay và chi phí vốn cao. Trong bối cảnh đó, nguồn vốn quốc tế 46,1 tỷ USD đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu rủi ro tài chính, kéo dài kỳ hạn vốn và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, qua đó “mở khóa” các dự án năng lượng tái tạo chiến lược có quy mô lớn và hàm lượng công nghệ cao.

Thứ hai, áp lực đầu tư hạ tầng lưới điện thông minh ngày càng trở nên rõ nét trong bối cảnh cơ cấu nguồn điện của Việt Nam đang dịch chuyển mạnh sang các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió và điện mặt trời. Đặc tính phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và biến động theo thời gian của các nguồn năng lượng này làm gia tăng rủi ro mất cân đối cung – cầu điện năng, đòi hỏi hệ thống lưới điện không chỉ đóng vai trò truyền tải đơn thuần mà còn phải có khả năng giám sát, điều khiển và điều độ linh hoạt theo thời gian thực. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cấp toàn diện lưới điện hiện hữu theo hướng lưới điện thông minh, tích hợp các công nghệ số như hệ thống đo đếm thông minh, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn, cũng như các giải pháp lưu trữ năng lượng nhằm ổn định tần số và điện áp. Tuy nhiên, đầu tư cho hạ tầng lưới điện truyền tải và phân phối thường có suất đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn kéo dài và tỷ suất sinh lời thấp, trong khi chịu sự điều tiết chặt chẽ về giá điện và cơ chế thu hồi vốn. Điều này khiến khu vực tư nhân, đặc biệt là các nhà đầu tư trong nước, tỏ ra thận trọng và thiếu động lực tham gia. Bên cạnh đó, mô hình độc quyền tự nhiên trong truyền tải điện, cùng với các hạn chế về khung pháp lý cho hợp tác công – tư (PPP), càng làm gia tăng rào cản huy động nguồn lực xã hội cho phát triển lưới điện thông minh. Do đó, nếu không có cơ chế chính sách đủ hấp dẫn và các công cụ tài chính hỗ trợ phù hợp, áp lực đầu tư hạ tầng lưới điện thông minh có thể trở thành nút thắt lớn, cản trở quá trình chuyển dịch năng lượng bền vững trong trung và dài hạn.

Thứ ba, vai trò của vốn mồi và chia sẻ rủi ro: Tỷ lệ đòn bẩy 3,2 lần phản ánh thực tế rằng các dự án năng lượng xanh tại Việt Nam vẫn bị thị trường tài chính quốc tế đánh giá là có rủi ro cao về chính sách, pháp lý, tỷ giá. Để thu hút được dòng vốn tư nhân quốc tế tham gia vào phần thiếu hụt 46,1 tỷ USD, cần có một lượng vốn hỗ trợ đóng vai trò vốn mồi để giảm thiểu rủi ro. Cơ chế Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng (JETP) mà Việt Nam tham gia, với cam kết huy động 15,5 tỷ USD ban đầu từ nhóm các nước G7 và đối tác, chính là minh chứng rõ nét nhất cho sự phụ thuộc này. Nếu không có dòng vốn cam kết này để hỗ trợ chính sách và hạ tầng, lộ trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam sẽ khó đạt được tốc độ như kỳ vọng trong kịch bản có điều kiện.

Bên cạnh bức tranh phụ thuộc lớn vào vốn ngoại của các ngành phát thải cao, số liệu từ Bảng 2 cũng cho thấy, những điểm sáng về năng lực nội tại và những khoảng trống công nghệ cụ thể cần lấp đầy. Cụ thể, lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) là lĩnh vực duy nhất mà nguồn vốn tự lực (3,9 tỷ USD) vượt trội đáng kể so với nhu cầu hỗ trợ từ quốc tế (1,6 tỷ USD). Tỷ lệ vốn quốc tế trên vốn tự lực chỉ là 0,4 lần, thấp nhất trong tất cả các ngành được khảo sát. Sự đảo chiều này phản ánh đặc thù của ngành lâm nghiệp Việt Nam, vốn dựa nhiều vào các yếu tố nội địa, như tài nguyên đất, lao động và cơ chế chính sách, hơn là công nghệ đắt tiền nhập khẩu. Số liệu này minh chứng rằng, Việt Nam đang nắm giữ thế chủ động lớn trong việc duy trì và mở rộng bể hấp thụ carbon. Do đó, dòng vốn quốc tế 1,6 tỷ USD trong lĩnh vực này không nên tập trung vào việc trồng rừng cơ bản, mà cần hướng vào nâng cao chất lượng rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và kỹ thuật đo đếm trữ lượng carbon để tham gia thị trường tín chỉ carbon quốc tế.

Lĩnh vực quản lý chất thải thể hiện một trạng thái cân bằng tương đối nhưng vẫn nghiêng về nhu cầu hỗ trợ. Với vốn tự lực 0,9 tỷ USD và nhu cầu quốc tế 1,8 tỷ USD, tỷ lệ đòn bẩy là 2,0 lần. Điều này có nghĩa là, cứ 1 đồng vốn trong nước bỏ ra cho thu gom, vận chuyển, cần thêm 2 đồng vốn quốc tế để xử lý triệt để. Sự chênh lệch này phản ánh khoảng cách về trình độ công nghệ. Nguồn vốn nội lực hiện nay chủ yếu giải quyết các khâu cơ bản (thu gom, chôn lấp hợp vệ sinh). Tuy nhiên, để đạt mục tiêu giảm phát thải khí metan, ngành chất thải buộc phải chuyển dịch sang các công nghệ xử lý tiên tiến, thu hồi khí bãi rác hay tái chế tuần hoàn. Đây là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn và kỹ thuật vận hành phức tạp mà doanh nghiệp trong nước thường phải liên doanh hoặc vay vốn nước ngoài để thực hiện.

Một số hàm ý chính sách

Từ kết quả phân tích về nhu cầu tài chính cho các mục tiêu về giảm phát thải, có thể rút ra một số hàm ý chính sách và giải pháp trong thu hút tài chính khí hậu quốc tế nhằm đạt được mục tiêu Net Zero của Việt Nam trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, cần có chiến lược phân bổ nguồn vốn quốc tế dựa trên đặc thù đòn bẩy của từng ngành: Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hiệu quả biên của dòng vốn quốc tế không đồng nhất giữa các ngành. Do đó, Chính phủ cần xây dựng một cơ chế điều phối dòng vốn ODA và hỗ trợ quốc tế (như JETP) theo nguyên tắc ưu tiên vào các điểm nghẽn về công nghệ và vốn mà nội lực chưa thể đáp ứng.

Đồng thời, cần ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA) và viện trợ không hoàn lại cho nông nghiệp và công nghiệp. Với tỷ lệ đòn bẩy quốc tế rất cao (lần lượt là 6,7 lần và 5,3 lần), hai lĩnh vực này đang đối mặt với rào cản lớn về công nghệ và chi phí chuyển đổi. Dòng vốn ưu đãi cần được hướng vào việc hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang các mô hình canh tác lúa phát thải thấp và hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp tiếp cận các công nghệ “deep-tech” (như CCUS, hydrogen xanh) vốn có chi phí đầu tư ban đầu quá lớn so với khả năng của khu vực tư nhân trong nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022).

Ngoài ra, cần áp dụng mô hình tài chính hỗn hợp cho lĩnh vực năng lượng: Đối với ngành năng lượng – khu vực thâm dụng vốn lớn nhất (cần 46,1 tỷ USD từ quốc tế), không thể chỉ dựa vào nguồn vốn vay công. Vốn quốc tế cần đóng vai trò là “vốn mồi” (catalytic capital) để cung cấp các công cụ giảm thiểu rủi ro (như bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất), từ đó kích hoạt và thu hút dòng vốn đầu tư tư nhân và tín dụng thương mại vào các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn như điện gió ngoài khơi (Ngân hàng Thế giới, 2022).

Thứ hai, cần phát huy nội lực và cơ chế thị trường cho các lĩnh vực có tính tự chủ cao. Đối với các lĩnh vực có tỷ lệ phụ thuộc quốc tế thấp như LULUCF (0,4 lần) và một phần lĩnh vực Chất thải, chiến lược tài chính cần tập trung vào việc khơi thông nguồn lực trong nước thông qua các cơ chế chính sách. Hoàn thiện cơ chế định giá carbon và thị trường tín chỉ carbon: Việc vận hành sàn giao dịch tín chỉ các-bon trong nước sẽ tạo động lực tài chính mạnh mẽ cho lĩnh vực LULUCF và Chất thải. Nguồn thu từ bán tín chỉ rừng và giảm phát thải khí mê-tan sẽ quay lại tái đầu tư cho bảo vệ rừng và công nghệ xử lý rác, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước (Chính phủ, 2022); Tăng cường vai trò của tín dụng xanh nội địa: Ngân hàng Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích các ngân hàng thương mại ưu tiên cấp tín dụng cho các dự án bảo vệ môi trường và xử lý chất thải có phương án thu hồi vốn khả thi, tận dụng nguồn tiền gửi trong dân cư.

Thứ ba, cần có giải pháp lấp đầy khoảng trống đầu tư thông qua minh bạch hóa và chuyển đổi số. Để thu hút hiệu quả dòng vốn quốc tế nhằm lấp đầy khoảng trống đầu tư lớn, việc cải thiện môi trường đầu tư xanh là điều kiện tiên quyết: Cần sớm đưa vào thực thi Danh mục phân loại xanh (theo Quyết định số 21/2025/QĐ- TTg, ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh) để chuẩn hóa ngôn ngữ đầu tư, giúp các nhà đầu tư quốc tế dễ dàng thẩm định và ra quyết định, tránh rủi ro tẩy xanh; Số hóa quy trình đo đạc, báo cáo và thẩm định: Việc áp dụng công nghệ số để minh bạch hóa dữ liệu phát thải sẽ tạo niềm tin cho các nhà tài trợ quốc tế, đặc biệt là trong các cơ chế chi trả dựa trên kết quả.

Kết luận

Nghiên cứu cung cấp một bức tranh về thách thức tài chính mà Việt Nam phải đối mặt trên hành trình hiện thực hóa đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Kết quả phân tích khẳng định sự thiếu hụt nghiêm trọng của nguồn lực nội tại so với nhu cầu thực tế. Với khoảng trống đầu tư ước tính lên tới hàng trăm tỷ USD trong dài hạn, Việt Nam cần thêm các nguồn tài chính quốc tế để thực hiện các cam kết giảm phát thải sâu. Tài chính quốc tế không còn là yếu tố bổ sung mà đã trở thành điều kiện tiên quyết cho sự thành công của chiến lược khí hậu quốc gia. Xét theo lĩnh vực, có sự phân hóa sâu sắc về mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn quốc tế giữa các ngành kinh tế thông qua chỉ số vốn quốc tế trên vốn tự lực. Kết quả định lượng cho thấy, nông nghiệp và các quá trình công nghiệp (IP) là những lĩnh vực có nhu cầu hỗ trợ về vốn và công nghệ cao nhất (tỷ lệ vốn quốc tế gấp từ 5 đến gần 7 lần vốn tự lực). Trong khi đó, năng lượng là lĩnh vực thâm dụng vốn lớn nhất về quy mô tuyệt đối, đòi hỏi sự kết hợp mạnh mẽ giữa nguồn vốn ưu đãi quốc tế và vốn đầu tư tư nhân. Ngược lại, lĩnh vực LULUCF lại là điểm sáng về khả năng tự chủ tài chính.

Dựa trên kết quả phân tích, bài viết kiến nghị sự chuyển dịch tư duy chiến lược trong tiếp cận tài chính khí hậu chuyển từ thu hút vốn dàn trải sang phân bổ vốn theo hiệu quả đòn bẩy. Thay vì áp dụng cơ chế đồng nhất, Chính phủ cần ưu tiên nguồn vốn ODA và hỗ trợ kỹ thuật cho các lĩnh vực phụ thuộc nhiều về công nghệ như nông nghiệp, công nghiệp, đồng thời sử dụng vốn quốc tế làm vốn mồi để khơi thông dòng vốn tư nhân cho hạ tầng năng lượng. Để đạt được mục tiêu Net Zero vào năm 2050, Việt Nam cần một cuộc cách mạng không chỉ về công nghệ, mà còn về chiến lược tài chính. Việc xác định đúng vai trò và mức độ phụ thuộc vào tài chính quốc tế của từng ngành sẽ giúp Việt Nam xây dựng được lộ trình huy động vốn thông minh, tránh bẫy thu nhập trung bình carbon cao và hướng tới một nền kinh tế xanh, bền vững và tự chủ.

TS Trần Thị Thu Hường – Học viện Ngân hàng 

Tài liệu tham khảo:
– Bain & Company, GenZero, Google, Standard Chartered, & Temasek (2025). Southeast Asia’s Green Economy: Unlocking Systems for Growth and Impact.
– Bộ Kế hoạch và Đầu tư & The Boston Consulting Group (BCG) (2023). Tăng trưởng xanh: Cơ hội đột phá và hướng đi cho Việt Nam.
– Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2022.
– Chính phủ (2022). Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
– Ngân hàng Thế giới (World Bank Group) (2022). Vietnam Country Climate and Development Report.
– Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg, ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.
– Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 500/QĐ-TTg, ngày 15/5/2023 phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII).
TAGGED:tài chính khí hậu
SOURCES:Tạp chí Kinh tế - Tài chính
Previous Article Nghị quyết 70-NQ/TW: Cơ chế cho chuyển dịch năng lượng bền vững
Next Article Công trình xanh bước sang giai đoạn mới: Những thay đổi từ tiêu chuẩn LEED v5
Leave a review Leave a review

Leave a Review Hủy

Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.

Mới cập nhật

Công trình xanh bước sang giai đoạn mới: Những thay đổi từ tiêu chuẩn LEED v5

Thu hút tài chính khí hậu quốc tế vào các lĩnh vực nhằm đạt mục tiêu Net Zero của Việt Nam

Nghị quyết 70-NQ/TW: Cơ chế cho chuyển dịch năng lượng bền vững

Chiến lược ASEAN về môi trường trong giai đoạn mới

Việt Nam lọt vào Top 10 thị trường công trình xanh đạt chứng nhận LEED toàn cầu

Năng lượng tái tạo giúp các quốc gia giảm tổn thương trước cú sốc dầu mỏ

Từ khủng hoảng năng lượng đến bước ngoặt cho thị trường carbon tuân thủ

Carbon hàm chứa – “mặt trận” mới của năng lực vật liệu

Kiểm soát khí thải động cơ của phương tiện tham gia giao thông, đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi năng lượng xanh

Sắp tới chỉ còn xăng E10: Bước đi chiến lược có giúp hạ nhiệt giá xăng?

Xem thêm

Bài viếtTài chínhThị trường carbon

Tiềm năng thu hút tỷ USD tài chính khí hậu và chuyển đổi xanh từ thị trường carbon

VnEconomy 03/01/2026
Sự kiệnTài chính

Đẩy mạnh đào tạo nhân lực cho nền tài chính xanh Việt Nam

NetZero.VN 12/07/2025
Bài viếtTài chínhTài nguyên & Môi trường

Tín chỉ carbon: đồng tiền mới trong trò chơi tài chính khí hậu toàn cầu

The Saigon Times 18/12/2024
Bài viếtChính sáchTài chính

Tài chính khí hậu là con đường dẫn đến công lý khí hậu

NetZero.VN 17/11/2024
Facebook Youtube Instagram Tiktok X-twitter Linkedin
NETZERO.VN
  • Giới thiệu
  • Đội ngũ
  • Đối tác
  • Liên hệ
  • Quảng cáo
Thông tin
  • Dự án
  • Multimedia
  • Diễn đàn
  • Tuyển dụng
  • Newsletter

Đăng kí miễn phí

Theo dõi bản tin của chúng tôi

Tham gia cộng đồng
© 2025 NetZero.VN | Net Zero VietNam JSC. All Rights Reserved.
Welcome Back!

Sign in to your account

Username or Email Address
Password

Lost your password?