
(Ảnh: TLD Apparel)
EU được đánh giá là thị trường ổn định của dệt may Việt Nam nhưng cũng đầy áp lực. Tuy vậy, các tiêu chuẩn xanh của EU là bước chạy đà giúp ngành có tăng tốc và mở rộng ở thị trường lớn nhất là Mỹ và các thị trường có quy mô tương đương EU, như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
ESPR tạo ra thay đổi về luật chơi
Tháng 7/2024, Quy định về thiết kế sinh thái đối với sản phẩm bền vững (ESPR – Ecodesign for Sustainable Products Regulation) của EU có hiệu lực. Đến tháng 4/2025, EU công bố dệt may là một trong những nhóm ngành đầu tiên phải thực hiện các yêu cầu ESPR. Các văn bản riêng (delegated act) cho dệt may dự kiến sẽ được thông qua vào nửa cuối năm 2027 và sau đó dự kiến khoảng 18 tháng thì bước vào giai đoạn tuân thủ.
Vậy ESPR sẽ tạo ra các thách thức gì với ngành dệt may Việt Nam?
Phát biểu tại triển lãm dệt may Saigontex 2026 vào trung tuần tháng 4 vừa qua tại TPHCM, bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), nói rằng dệt may Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển mới, trong đó các đặc tính bền vững, minh bạch và tuần hoàn các giá trị cốt lõi. Những yếu tố này sẽ giúp duy trì vị trí Top 3, giá trị gia tăng và sức mạnh cạnh tranh của ngành dệt may, thời trang Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Dệt may Việt Nam đạt tổng kim ngạch 46 tỉ đô la Mỹ trong năm 2025, tăng khoảng 5,6% so với năm trước đó, theo Tổng cục Hải quan Việt Nam và VITAS. Trong đó, Mỹ là thị trường lớn nhất với 38%, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc và Trung Quốc là bám sát nhau với tỷ lệ từ 7,5% đến hơn 10%, còn ASEAN là thị trường mới nổi với 3,5-6%.
Tại Saigontex 2026, các chuyên gia ngành dệt may Việt Nam đã khái quát hóa bốn thách thức lớn của ESPR với ngành dệt may Việt Nam: (i). Yêu cầu về thiết kế sinh thái (dự kiến bao gồm các yêu cầu về độ bền, khả năng tái chế, hàm lượng nguyên liệu tái chế, kiểm soát các chất đáng quan ngại… (ii). Hộ chiếu số sản phẩm (DPP) là mã QR hay chip giúp người tiêu dùng, cơ quan quản lý hoặc cơ sở tái chế có thể truy cập nhanh về nguồn gốc nguyên liệu (thành phần sợi, nơi sản xuất, chứng chỉ tái chế), chỉ số môi trường (dấu chân carbon, mức độ tiêu thụ điện nước, khả năng tái chế), an toàn (tuân thủ các quy định quản lý chất độc hại) và hướng dẫn sử dụng (bảo quản, sửa chữa và xử lý khi không sử dụng sản phẩm nữa). (iii). Cấm tiêu hủy hàng không bán được hoặc bị trả lại và (iv). EU có các tiêu chí mua sắm công xanh (GPP), yêu cầu cơ quan và doanh nghiệp nhà nước ưu tiên mua sắm các sản phẩm bền vững.
Cụ thể hơn, các chuyên gia nói, hai điểm tác động trực tiếp đến dệt may Việt Nam là hàm lượng tái chế và hộ chiếu số. Trong đó, DPP gắn với khả năng quản trị dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và chứng minh thông tin sản phẩm theo các quy định của EU.
Bốn tầng của chuỗi cung ứng dệt may
Chuỗi cung ứng dệt may được phân chia thành bốn cấp độ chặt chẽ nhằm đảm bảo tính minh bạch và bền vững khi vào các thị trường lớn như Mỹ và EU. Bắt đầu từ cấp 1 (Tier 1) là các nhà máy may hoàn chỉnh, trực tiếp ký hợp đồng với nhãn hàng để thực hiện các công đoạn cuối cùng như cắt may và đóng gói. Kế đến là các công ty cấp 2 (Tier 2) xử lý các khâu như dệt, nhuộm và in ấn – đây là khâu gây ô nhiễm nhất khi chiếm đến 53% lượng phát thải và ô nhiễm môi trường. Sau đó là cấp 3 (Tier 3) với vai trò sơ chế nguyên liệu thô thành sợi để cung cấp đầu vào cho Tier 2. Cuối cùng là cấp 4 (Tier 4) là điểm khởi đầu của chuỗi cung ứng bao gồm các trang trại trồng bông, nuôi cừu hoặc sản xuất xơ nhân tạo. Cấp này có mức độ khó truy xuất nhất nhưng lại quan trọng nhất.
Việc phân cấp này đóng vai trò sống còn bởi để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe như hộ chiếu sản phẩm công nghệ số (DPP) hay quy định về lao động cưỡng bức (UFLPA). Doanh nghiệp phải chứng minh được tính tuân thủ và bền vững xuyên suốt từ nguồn nguyên liệu gốc đến sản phẩm may hoàn chỉnh.
Ricky Hồ

