
Luật Bảo vệ môi trường đang được nghiên cứu sửa đổi trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu tăng trưởng không chỉ là tốc độ mà phải đi kèm chất lượng, tính bền vững và khả năng chống chịu trước các biến động toàn cầu.
Việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường không chỉ là hoàn thiện khung pháp lý theo hướng tư duy lập pháp mới mà còn tạo nền tảng dài hạn cho mô hình phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng carbon thấp cho phát triển bền vững, gắn với mục tiêu Net Zero 2050 của Việt Nam.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Luật Bảo vệ môi trường qua thực thi bộc lộ nhiều bất cập như: Giấy phép môi trường còn “hẹp”, Dự án nhỏ vẫn “vướng” đánh giá tác động môi trường, việc xả thải vào công trình thủy lợi phức tạp, quản lý biến đổi khí hậu chưa khả thi, thị trường carbon thiếu nền tảng vận hành ổn định, một số quy định giữa Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015 còn giao thoa, dễ dẫn tới trùng lặp trong kiểm soát ô nhiễm và phân công nhiệm vụ.
Đánh giá của Đoàn giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành của Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV vào cuối tháng 10/2025 cho thấy, một số chính sách của Luật Bảo vệ môi trường cần được cụ thể hóa trong các pháp luật khác có liên quan; tuy nhiên, hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ như: pháp luật về thuế, phí trong việc nâng cao hiệu quả của các công cụ kinh tế, thay đổi hành vi, thúc đẩy xã hội hóa trong bảo vệ môi trường; pháp luật về đầu tư trong việc quy định về điều kiện kinh doanh đối với dịch vụ tư vấn lập hồ sơ; về thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực môi trường…
Cùng với đó, một số tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật về tái sử dụng nước thải, chất thải rắn công nghiệp chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế tuần hoàn và sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ; lộ trình thực hiện một số nội dung còn chậm như: thành lập thị trường các-bon trong nước, chuyển đổi phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch, tình trạng ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp, đặc biệt là ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh có những thời điểm rơi vào nhóm đô thị ô nhiễm nhất thế giới…
Tiến sĩ Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam cho rằng, hiện Việt Nam vẫn thiếu hệ thống kiểm kê phát thải quốc gia thống nhất. Đây là khoảng trống, dẫn đến thiếu nền tảng dữ liệu cấp quốc gia. Điều này khiến việc quản lý và hoạch định chính sách gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, cần làm rõ trách nhiệm trong quản trị môi trường thông minh theo thời gian thực, cũng như hệ thống dự báo, cảnh báo sớm.
Cục trưởng Cục Môi trường Tăng Thế Cường chia sẻ: “Tôi cho rằng, đây là thời điểm phù hợp để sửa đổi Luật, bởi không chỉ để xử lý kịp thời các bất cập trước mắt mà còn phản ánh sự chuyển đổi căn bản trong mô hình phát triển của Việt Nam từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng xanh, phát thải thấp và bền vững hơn. Bảo vệ môi trường không còn được nhìn nhận là chi phí của phát triển mà là nền tảng và động lực cho phát triển dài hạn của đất nước”.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành cho biết, dự thảo Luật lần này được xây dựng trên một tư duy lập pháp mới. Theo đó, Luật chỉ quy định khung và nguyên tắc để bảo đảm tính linh hoạt.
Dự thảo Luật tập trung vào 5 cải cách thực chất thủ tục hành chính và đẩy mạnh phân cấp, đơn giản hóa, minh bạch hóa các thủ tục như đánh giá tác động môi trường và giấy phép môi trường để giảm thiểu chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc nới lỏng thủ tục sẽ đi kèm với cơ chế hậu kiểm, giám sát chặt chẽ hơn và phân định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành…
Cùng với đó là đổi mới tư duy về chất thải – chuyển từ việc “xử lý chất thải” sang coi chất thải là “tài nguyên”. “Chúng ta sẽ tạo hành lang pháp lý để phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp môi trường và thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn”, Thứ trưởng Lê Công Thành khẳng định.
Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi hướng tới việc tiên phong chuyển đổi số; chuyển từ “bị động khắc phục” sang “chủ động phòng ngừa”; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải ngay từ gốc, vận hành hiệu quả các công cụ kinh tế. Đồng thời hoàn thiện cơ chế thị trường, đặc biệt là thị trường tín chỉ carbon, biến, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu thành động lực kinh tế để doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh.
Đề cập tới vấn đề giải quyết bài toán lớn là làm sao không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế, Cục trưởng Cục Môi trường Tăng Thế Cường nhấn mạnh: Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao. Dự thảo Luật sửa đổi đã thể hiện nỗ lực tìm kiếm sự cân bằng này, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, vừa nâng cao hiệu quả quản lý môi trường thông qua các công cụ hiện đại và minh bạch hơn.
Theo các chuyên gia về môi trường, nếu không nhanh chóng hoàn thiện thể chế, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn sẽ tiếp tục nới rộng, làm giảm hiệu quả quản lý môi trường cũng như cản trở quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế. Ngược lại, nếu tháo gỡ được những “điểm nghẽn” về thủ tục, phân cấp hợp lý và xây dựng được hệ thống chính sách đủ linh hoạt để thích ứng với xu thế mới, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi sẽ không chỉ giải quyết bài toán ô nhiễm trước mắt mà còn mở ra nền tảng dài hạn cho mô hình phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng carbon thấp của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thắng Trung

