
Xanh hóa để tăng trưởng nhanh
Thông tin tại Diễn đàn hợp tác Kinh tế Việt Nam – châu Á 2026 với chủ đề: “Tăng trưởng kinh tế xanh tại Việt Nam trong bối cảnh và điều kiện mới” tổ chức chiều ngày 12/5, PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn, Phó Chủ tịch Hội khoa học Kinh tế Việt Nam, Nguyên Phó trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho biết, chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam đã đặt mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP ít nhất 15% vào năm 2030 và ít nhất 30% vào năm 2050 so với năm 2014, đồng thời nhấn mạnh xanh hóa các ngành kinh tế, sử dụng tiết kiệm năng lượng và tài nguyên, áp dụng kinh tế tuần hoàn, khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn cũng lưu ý, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045; đồng thời đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn 2026-2030. Trong khi đó, Việt Nam cũng đã cam kết thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững SDGs 2030 và đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050.
“Điều này đặt ra một câu hỏi lớn ở tầm chiến lược phát triển quốc gia: Việt Nam có thể đồng thời đạt được tăng trưởng cao, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và net zero hay không? Nếu có thì bằng mô hình phát triển nào, thể chế nào, công nghệ nào và bằng phương thức tổ chức thực thi nào?”, PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn đặt vấn đề.
Phân tích mô hình tăng trưởng cũ, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam nhấn mạnh, vấn đề không phải chọn tăng trưởng nhanh hay tăng trưởng xanh mà xanh hóa để tăng trưởng nhanh và bền vững hơn.
Từ “tăng trưởng rồi mới xanh” sang “xanh để tăng trưởng nhanh hơn”, theo ông, cần 6 “đột phá” về: Thể chế; Công nghệ – số hóa; Nhân lực; Hạ tầng; Doanh nghiệp; và Liên kết.
Nguồn lực tài chính xanh của Việt Nam

Đồng tình với nhận định trên, TS. Nguyễn Thanh Hải, chuyên gia kinh tế cao cấp để là được điều đó, vấn đề cốt lõi vẫn là nguồn lực tài chính xanh.
Ông cho biết, nguồn tài chính xanh lớn nhất trên toàn cầu là phát hành trái phiếu xanh hàng năm cao nhất lên đến 670 tỷ USD. Tổng dư nợ trái phiếu xanh tích lũy cho đến hết năm 2025 là 4.156,4 tỷ USD, chiếm khoảng 3,2% tổng dư nợ trái phiếu tích lũy toàn cầu. Nếu tính thêm cả các loại trái phiếu bền vững tích lũy cũng đã lên đến 6.154,6 tỷ USD, chiếm khoảng 5,2% tổng dư nợ trái phiếu tích lũy toàn cầu.
Tại Việt Nam, nguồn lực tài chính xanh hiện chưa có phân loại và thống kê đầy đủ, nhưng sơ bộ có thể bao gồm các loại công cụ tài chính xanh khác nhau như sau: Tín dụng xanh; Trái phiếu xanh, Trái phiếu bền vững; Nguồn quỹ xanh (trong nước và quốc tế); ODA và FDI cho các Chương trình, dự án xanh; Thuế bảo vệ môi trường; Chi đầu tư và sự nghiệp môi trường; Thu từ tín chỉ carbon.
Trong đó, tín dụng xanh của Việt Nam mặc dù còn khiêm tốn nhưng hiện là nguồn lớn nhất của tài chính xanh.
Đến cuối năm 2025, tín dụng xanh của Việt Nam đạt 780.000 tỷ đồng (tương đương 29,65 tỷ USD và 6,07% GDP của Việt Nam), tức là trong vòng 10 năm 2016-2025 tăng 8,5 lần (so với Trung Quốc cùng thời gian này tăng 2,7 lần); Tuy nhiên tốc độ tăng tín dụng xanh 2 năm gần đây đã giảm mạnh: 9,7% (2024) và 14,7% (2025), và đều thấp hơn tốc độ tăng tổng dư nợ nền kinh tế nói chung là 15,08% (2024) và 19,1% (2025).
Với trái phiếu xanh, nguồn tài chính xanh lớn nhất trên toàn cầu thì ở Việt Nam, nguồn này còn quá nhỏ bé. Theo đó, phát hành trái phiếu doanh nghiệp cho các dự án năng lượng tái tạo giai đoạn 2019-2025 chỉ khoảng 3,3 tỷ USD và có xu hướng giảm dần so với GDP (Năm 2019 chiếm 0,22% GDP, năm 2025 chiếm 0,015% GDP). Phát hành trái phiếu xanh bằng VND ở Việt Nam giai đoạn 2022-2025 cũng chỉ khoảng 1 tỷ USD.
Đáng chú ý, ngay từ năm 2016, Bộ Tài chính đã phê duyệt đề án phát hành thí điểm Trái phiếu xanh Chính quyền địa phương và TP Hồ Chí Minh và Bà Rịa – Vũng Tàu trong 2 năm 2016-2017 đã phát hành thí điểm trái phiếu xanh (quy mô nhỏ và tài trợ cho các dự án xanh trong danh mục chung các dự án đầu tư của Chính quyền địa phương). Bộ Tài chính cũng đã xây dựng Đề án phát hành trái phiếu xanh Chính phủ, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quy định của Nghị định 95/2018/NĐ-CP.
Đến nay, đã có khoảng 10 ngân hàng, 1 công ty tài chính và 7 doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh và trái phiếu bền vững trong nước (bằng VND, quy mô nhỏ, lớn nhất là 2.000 tỷ đồng, trong khi quốc tế lớn nhất là 300 triệu USD).
Về các Quỹ xanh, hiện nay Việt Nam có rất ít Quỹ xanh, quy mô cũng rất nhỏ, ví dụ Quỹ bảo vệ môi trường có quy mô nguồn quỹ là 3.000 tỷ đồng (khoảng 115 triệu USD),
Ngoài ra cũng đã có một số Quỹ xanh quốc tế hoạt động tại Việt Nam như Quỹ Đối tác Khí hậu toàn cầu có tổng nguồn quỹ khoảng hơn 4 tỷ USD, nhưng thực tế nguồn quỹ dành cho Việt Nam chỉ khoảng 200 triệu USD; Quỹ Đầu tư Ngân hàng Norges Bank (do NHTW Na uy quản lý) có quy mô nguồn quỹ khoảng 1.300 tỷ USD với các gói tài chính xanh, bền vững là rất lớn, tuy nhiên Quỹ mới đầu tư cho thị trường Việt Nam khoảng 700 triệu USD.
Một nguồn tài chính xanh được kể đến là thu bán tín chỉ carbon ra quốc tế. Từ trước tới nay, nguồn này đạt khoảng 15.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 0,7 tỷ USD, thời gian gần đây nhất là bán tín chỉ carbon rừng cho Ngân hàng Thế giới với quy mô khoảng 1.300 tỷ đồng (50 triệu USD).

Thách thức huy động
Báo cáo Khí hậu và Phát triển của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam tháng 6/2022 đã xác định nhu cầu tài chính và nguồn lực tiềm năng của Việt Nam cho chuyển đổi xanh (thích ứng và khử carbon) giai đoạn 2022-2040 là 368 tỷ USD, tương đương 6,8% GDP (4,7% GDP cho khả năng chống chịu và 2,1% GDP cho khử carbon)
Trong đó, khu vực tư nhân là 184 tỷ USD (3,4% GDP, chiếm 50%); Khu vực công là 130 tỷ USD (2,4% GDP, chiếm 35,3%); Tài trợ quốc tế là 54 tỷ USD (1% GDP, chiếm 14,7%).
Trong khi đó, Bloomberg Study on Energy Transition of Vietnam tính nhu cầu đầu tư của Việt Nam vào chuyển đổi xanh để đạt được Net Zero vào năm 2050 cho giai đoạn 2026-2030 (46 tỷ USD/năm hoặc 9,2% GDP của năm 2025) bao gồm các lĩnh vực xanh sau: Công nghiệp sạch; Giao thông điện khí hóa; Hydro; Thu hồi và lưu trữ carbon; Lưu trữ năng lượng; Năng lượng hạt nhân; Lưới điện; Năng lượng tái tạo.
Theo chuyên gia, riêng nhu cầu tài chính cho Quy hoạch điện VIII và chuyển đổi năng lượng đã là rất lớn. Cụ thể, giai đoạn 2026-2030 là 136,3 tỷ đồng, trong đó 70,4% khu vực tư nhân.
“Theo ước tính của chúng tôi, riêng nhu cầu tài chính xanh đầu tư cho năng lượng tái tạo lên tới 20,3 đến 32,5 tỷ USD/năm (tương đương 4,1 đến 6,7% GDP năm 2025). Cùng với các nhu cầu chuyển đổi xanh, đây là thách thức rất lớn đòi hỏi có cơ chế huy động hiệu quả”, TS. Nguyễn Thanh Hải đề xuất.
Thanh Thanh

