
Ô nhiễm không khí không chỉ riêng một địa phương
Số liệu quan trắc môi trường cho thấy, tình trạng ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, đặc biệt là khu vực Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, đang ở mức đáng báo động. Giai đoạn 2023-2025, nồng độ bụi mịn PM2.5 trung bình năm tại Hà Nội hiện dao động từ 47 – 48 µg/Nm3, vượt từ 1,5 đến 2 lần quy chuẩn quốc gia. Đáng chú ý, thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường ghi nhận có tới 1/3 số ngày trong năm chỉ số PM2.5 vượt giới hạn trung bình 24 giờ. Đợt ô nhiễm này thường kéo dài từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Bên cạnh các nguồn thải sơ cấp, các hợp chất trong không khí còn tương tác để tạo thành bụi mịn thứ cấp, khiến bản chất ô nhiễm ngày càng trở nên phức tạp.
Thực tế vận hành cho thấy, ô nhiễm không khí mang tính chất liên vùng. Bụi hay khí thải không đứng yên một chỗ mà di chuyển xa theo các dòng khí quyển. Một tỉnh có thể chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ khí thải của địa phương lân cận và ngược lại, cũng có thể là nguồn gây ô nhiễm cho vùng khác. Hà Nội là một ví dụ điển hình khi vừa tiếp nhận nguồn ô nhiễm dịch chuyển từ các tỉnh xung quanh, vừa phát thải tác động ngược trở lại không gian chung của cả vùng.
Cần giải pháp đồng bộ, hành động liên vùng, liên ngành
Khẳng định tầm quan trọng của việc kiểm soát ô nhiễm không khí, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên cho biết, cải thiện môi trường không khí không chỉ là nhiệm vụ cấp bách về bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn gắn chặt với lộ trình chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện cam kết Net Zero của Việt Nam. Thứ trưởng Lê Trọng Yên cho rằng, ô nhiễm không khí diễn biến theo mùa và xuất hiện nhiều hợp chất thứ cấp phức tạp. Vì vậy, việc giải quyết bài toán này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của nhiều bộ, ngành và chính quyền các địa phương. Công tác quản lý không thể dừng lại ở việc xử lý sự cố riêng lẻ mà phải được tổ chức thống nhất giữa không gian quản lý hành chính và không gian phát thải thực tế của tự nhiên.
Phân tích sâu hơn về nút thắt trong công tác phối hợp hiện nay, Tiến sĩ Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam cho biết, trước đây Việt Nam từng có một số cơ chế phối hợp vùng nhưng hiệu quả còn hạn chế do mới dừng ở mức chia sẻ thông tin hoặc trao đổi mang tính hình thức.
“Nếu tỉnh nào cũng nói mình làm tốt nhưng môi trường vẫn ô nhiễm thì rõ ràng cơ chế quản lý đang có vấn đề. Muốn phối hợp hiệu quả, tất cả các địa phương trong vùng phải cùng nhìn vào một bức tranh chung dựa trên một nguồn dữ liệu thống nhất” – Tiến sĩ Hoàng Dương Tùng nhận định.
Công tác quản lý hiện nay cần bước qua giai đoạn ước tính tỉ lệ phần trăm đóng góp chung chung từ giao thông, công nghiệp hay nông nghiệp. Thay vào đó, phải định danh chính xác từng nguồn thải: Nhà máy nào, nằm ở đâu, lưu lượng và tải lượng phát thải cụ thể là bao nhiêu.
Từ nền tảng dữ liệu này, việc phân định trách nhiệm của từng tỉnh, từng ngành mới trở nên rõ ràng. Đồng thời, các bản tin dự báo sớm sẽ giúp ngành y tế, doanh nghiệp và người dân chủ động có giải pháp ứng phó phù hợp.
Hiện nay, Việt Nam đã có các nền tảng pháp lý quan trọng như Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, cùng hệ thống dữ liệu quan trắc tự động và dữ liệu vệ tinh ngày càng hoàn thiện. Giai đoạn từ nay đến năm 2030 được xem là thời điểm then chốt để thử nghiệm, hoàn thiện và chính thức vận hành cơ chế quản trị chất lượng không khí theo vùng, tạo bước ngoặt trong nỗ lực trả lại bầu không khí sạch cho các đô thị.
Dương Anh

