
Tại Diễn đàn “Tận dụng nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng xanh” mới đây, các chuyên gia nhấn mạnh: “Việc chúng ta cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050 là một tư duy rất hiện đại. Tầm nhìn của chúng ta không thua kém các nước phát triển, thậm chí đi trước họ rất nhiều, như Trung Quốc cam kết đạt Net Zero vào 2060, Ấn Độ 2070. Chỉ có điều, khi đặt ra khát vọng lớn nhưng việc thực hiện khát vọng đó một cách quyết liệt thì chúng ta đang bị thiếu”.
Tại sao tiến trình chuyển đổi đang bị “chậm” ?
PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Phó chủ tịch Hội khoa học kinh tế Việt Nam, thừa nhận rằng sau 5 năm thực hiện cam kết COP26, mọi thứ đang diễn ra chậm hơn kỳ vọng. Ông chỉ ra những nguyên nhân đang gây cản trở tiến trình chuyển đổi xanh. Đó là nhận thức của chúng ta chưa thật sự đầy đủ, cả từ cấp lãnh đạo đến người thực hiện trực tiếp. Hiện nay chúng ta đã có các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng khi đưa vào thực hiện thì nảy sinh vấn đề về năng lực thực thi.
Chúng ta đang dồn hết sức quyết liệt cho tăng trưởng kinh tế (GDP), nhưng nếu nói về “tăng trưởng bền vững” hay “tăng trưởng xanh” thì mức độ quyết liệt lại không bằng. Tại sao ta không quyết liệt với tăng trưởng xanh như cách ta theo đuổi con số tăng trưởng kinh tế hai chữ số? Chúng ta đang thiếu sự cân đối. Trong khi đó, nếu phân tích một cách khoa học, muốn đạt được tăng trưởng cao và bền vững thì tăng trưởng xanh đóng góp rất nhiều, nó tạo ra nhiều không gian và cơ hội mới.
Cùng với đó, tăng trưởng xanh thiếu hụt các điều kiện thực hiện. PGS.TS Bùi Quang Tuấn cho rằng chúng ta đã có chiến lược, có kế hoạch hành động quốc gia, thậm chí có cả các đề án thí điểm về kinh tế tuần hoàn. Về cơ bản, khung khổ pháp lý là khá đầy đủ, nhưng phần thực hiện còn thiếu rất nhiều điều kiện.
Thứ nhất: Thiếu nguồn lực tài chính. Kinh phí và khả năng huy động vốn còn hạn chế. Nhà nước chỉ đóng vai trò vốn mồi, rất cần huy động hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài cho chiến lược này.
Thứ hai: Hạn chế chế về nguồn nhân lực. Chúng ta chưa có sự đào tạo phù hợp để đội ngũ thực hiện có nhận thức đúng đắn. Hiện nay việc triển khai vẫn còn mang tính đối phó. Đặc biệt thiếu sự phối hợp và tính cộng hưởng. Các tổ chức hiện nay đang thiếu sự kết nối để tạo ra sự cộng hưởng.
Thứ ba: Truyền thông nâng cao nhận thức chưa đủ sâu, chưa tới “gốc”. Chúng ta nói nhiều về “xanh”, nhưng mới chỉ ở phần ngọn, chưa chạm đến gốc rễ của vấn đề. Truyền thông cần phải làm cho từng cá nhân, từng doanh nghiệp và cộng đồng hiểu rằng: Muốn tăng trưởng cao thì bắt buộc phải tăng trưởng xanh. Khi tạo được một nền tảng nhận thức đủ tốt, quá trình thực hiện sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Ngoài ra còn có các lý do về công nghệ
Theo TS Vũ Văn Doanh, Phó trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, “việc làm xanh” là những công việc bền vững góp phần bảo tồn và phục hồi môi trường trong mọi lĩnh vực từ nông nghiệp đến dịch vụ.
Tuy nhiên, bức tranh thực tế lại cho thấy sự lệch pha đáng kể giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng. Dẫn báo cáo năm 2023 của Ngân hàng Thế giới (WB), TS Doanh cho biết lao động xanh hiện nay tại Việt Nam chỉ chiếm khoảng 3,6% tổng số việc làm. Sự thiếu hụt không chỉ nằm ở số lượng mà còn ở chất lượng đào tạo. Cụ thể, Việt Nam đang thiếu hơn 60% giáo trình liên quan đến kỹ năng xanh và dữ liệu phát triển bền vững.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng nhưng không tìm được người, trong khi sinh viên ra trường lại không làm đúng chuyên môn. Để giải quyết bài toán này, TS Doanh đề xuất 4 xu thế: chuyển dịch sang nhân lực tri thức; phát triển đa kỹ năng; tăng cường liên kết “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp” và quốc tế hóa kỹ năng nghề.
Quy mô tài chính xanh còn nhỏ
Nếu nhân lực là “máu” thì tài chính xanh chính là “nguồn lực gốc” để vận hành cỗ máy chuyển đổi. Theo TS Nguyễn Trí Hiếu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu, tín dụng xanh tại Việt Nam đã có bước tiến dài trong 10 năm qua, với số lượng tổ chức tín dụng tham gia tăng từ 15 đơn vị (năm 2017) lên 43 đơn vị (cuối năm 2023).
Tuy nhiên, quy mô này vẫn còn quá nhỏ bé. Dư nợ tín dụng xanh hiện chỉ chiếm khoảng 4,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, tương đương khoảng 620.000 đến 650.000 tỷ đồng. Trong đó, nông nghiệp chiếm tỷ lệ từ 30% – 33%; năng lượng tái tạo và năng lượng sạch khoảng 45%. Song vẫn còn nhiều lĩnh vực khác còn thiếu tín dụng, như công trình xanh, giao thông xanh, kinh tế tuần hoàn…
TS Hiếu chỉ ra những “điểm nghẽn” cố hữu của hệ thống tài chính khi tiếp cận dự án xanh: Huy động vốn ngắn hạn nhưng cho vay dài hạn, trong khi các dự án xanh thường có thời gian hoàn vốn rất lâu; thiếu hụt dòng vốn ngoại, nhiều doanh nghiệp muốn vay USD với lãi suất thấp nhưng lại lo ngại rủi ro tỷ giá.
Cùng với đó, nguồn lực hỗ trợ hạn chế. Theo TS Nguyễn Trung Thắng, Phó viện trưởng Viện Chiến lược chính sách Nông nghiệp và Môi trường, các mức hỗ trợ lãi suất từ 2,6% đến 3,6% với mức trần 70 tỷ đồng mỗi dự án là “không thấm vào đâu” so với các dự án điện rác hàng nghìn tỷ.
Trước câu hỏi liệu có nên dùng “mệnh lệnh hành chính” để ép các ngân hàng dành chỉ tiêu cho tín dụng xanh, TS Hiếu nghiêng về phương án khuyến khích: “Chúng ta nên dùng các công cụ như tái cấp vốn, nới room tín dụng hoặc các cơ chế thưởng – phạt dựa trên lộ trình cụ thể của từng ngân hàng. Nếu đến cuối cùng vẫn không đạt mục tiêu vì lợi ích chung của quốc gia, lúc đó mới cần biện pháp cứng rắn”.
Một góc nhìn mới mẻ và quyết liệt được ông Lê Nguyễn Trường Giang, Viện trưởng Viện chiến lược Chuyển đổi số đưa ra, đó là chuyển đổi số không phải là công cụ hỗ trợ, mà là nền tảng tạo ra dữ liệu để “đo được, đếm được, tính được” sự xanh hóa.
“Nếu không có dữ liệu, mọi hiểu biết về chuyển đổi số hay tài chính xanh đều trở nên vô nghĩa,” ông Giang khẳng định; đồng thời đưa ra khái niệm “Data Capital” (vốn dữ liệu) và nhấn mạnh rằng để tiếp cận dòng vốn xanh toàn cầu, Việt Nam cần tạo ra một “mặc định” mới dựa trên dữ liệu chuẩn hóa.
Cụ thể về tối ưu hóa năng lượng trong doanh nghiệp, ông Giang cho rằng phải đo lường chính xác từng thiết bị tiêu thụ bao nhiêu, từ đó dùng dữ liệu để ra quyết định hợp lý.
Ông cũng cảnh báo về hiện trạng “xanh nhưng chưa chắc đã xanh”: “Dùng xe điện ở thành phố có thể chỉ là chuyển ô nhiễm từ chỗ này sang chỗ khác”. Bản chất “xanh” phải là sự hài hòa và cân bằng bền vững.
Vũ Khuê

