
Một dự án năng lượng đang chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật: Điện lực, Dầu khí, Đầu tư, Đất đai, Bảo vệ môi trường… trong khi thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro. Đây là một trong 4 vướng mắc chính sách đối với sự phát triển của ngành năng lượng do TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam đưa ra tại Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Khoảng cách giữa quy hoạch năng lượng và thực tiễn
Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, dù Việt Nam đã xây dựng quy hoạch nguồn năng lượng thuộc nhóm lớn nhất Đông Nam Á, khoảng cách giữa quy hoạch và thực tế triển khai vẫn còn rất lớn. Hiện, mới chỉ có Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4 bước vào vận hành, trong khi hàng loạt dự án LNG khác (Sơn Mỹ, Long An, Bạc Liêu, Hải Phòng…) vẫn “giậm chân tại chỗ” do vướng mắc về cơ chế đầu tư, hợp đồng mua bán điện, thu xếp vốn và hạ tầng. Điện gió ngoài khơi dù có tiềm năng khổng lồ nhưng vẫn chưa có dự án thương mại nào triển khai.
Vướng mắc chính sách rõ nhất là mỗi dự án hiện đang chịu sự điều chỉnh đồng thời của nhiều luật khác nhau như: Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo… với những quy định giao thoa, chưa thống nhất.Đơn cử như các dự án điện gió ngoài khơi, dù đã có Nghị định số 272/2026/NĐ-CP quy định về khảo sát và phát triển, nhưng vẫn thiếu các cơ chế nền tảng như phương pháp xác định giá điện, hợp đồng mua bán điện mẫu, cơ chế chia sẻ rủi ro hay bảo lãnh thanh toán để các tổ chức tín dụng quốc tế cấp vốn.
Bên cạnh đó, thị trường điện cạnh tranh của Việt Nam hiện mới dừng ở mức độ nhất định, giá điện chưa phản ánh đầy đủ tín hiệu thị trường và điều chỉnh chậm. Cơ chế bao tiêu sản lượng, hợp đồng mua bán điện cũng như thị trường khí/LNG gần như chưa hình thành do thiếu khung pháp lý minh bạch và cơ chế bảo đảm huy động công suất dài hạn.
Một vướng mắc nữa là phát triển nguồn điện chưa đồng bộ với hạ tầng truyền tải. Tình trạng nhiều dự án điện mặt trời, điện gió hoàn thành nhưng không thể phát hết công suất do quá tải lưới điện đã gây thiệt hại lớn cho nhà đầu tư và lãng phí nguồn lực xã hội. Mặc dù Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã chú trọng đến truyền tải và lưu trữ, nhưng cơ chế huy động tư nhân đầu tư vào lưới điện vẫn còn hạn chế.
Mặt khác, Việt Nam còn thiếu chính sách cho các ngành năng lượng mới. Các lĩnh vực như hydrogen, thu hồi các-bon, nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), lưu trữ năng lượng… chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế ưu đãi đầu tư, định giá hay thị trường tiêu thụ rõ ràng.
“Trong bối cảnh địa chính trị quốc tế phức tạp và biến động tại các tuyến hàng hải quốc tế, Việt Nam phải sớm hoàn thiện cơ chế dự trữ năng lượng chiến lược để nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài”, TS Nguyễn Hùng Dũng nhấn mạnh.
Theo ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Tạp chí Kinh tế ViệtNam/VnEconomy, thế giới đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc. Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu (data center), điện toán đám mây, bán dẫn và các ngành công nghiệp công nghệ cao… đang làm thay đổi căn bản cấu trúc tiêu thụ năng lượng toàn cầu. Đồng thời, cam kết phát thải ròng bằng “0” (Net Zero), yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và những biến động địa chính trị cũng đang thúc đẩy quá trình tái cấu trúc thị trường năng lượng với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết.
Trong bối cảnh đó, quốc gia nào tạo dựng được một khuôn khổ pháp lý minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo và khuyến khích đổi mới sẽ có lợi thế trong thu hút dòng vốn, công nghệ và các dự án năng lượng quy mô lớn. Ngược lại, nếu thể chế chậm đổi mới, những lợi thế về tài nguyên hay vị trí địa kinh tế cũng rất khó chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh thực sự. Đó cũng là bài học đang diễn ra ở nhiều nền kinh tế trên thế giới.
Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn. Đảng và Nhà nước đã xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao trong những năm tới, đồng thời tiếp tục thực hiện cam kết phát triển nhanh, bền vững và chuyển đổi xanh.

Chính sách giải phóng tiềm lực, hút nguồn vốn
Nhằm hiện thực hóa định hướng thể chế đi trước một bước, Việt Nam đang tích cực hoàn thiện dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) năm 2026 với những đột phá mạnh mẽ về phân cấp quản lý, cắt giảm thủ tục hành chính và tối ưu hóa chính sách ưu đãi đầu tư.
Theo dự thảo, các nhóm chính sách cốt lõi hướng tới giải quyết các vướng mắc hiện nay về hoàn thiện quy định hợp đồng dầu khí; đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân cấp, giao quyền trong thẩm định và phê duyệt các bước triển khai. Luật dự kiến đưa ra quy định cơ chế phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi. Đồng thời, bổ sung, hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư đối với các vấn đề thực tế phát sinh đặc thù.
Một điểm mới đáng chú ý, sẽ có khung pháp lý cho hoạt động giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ các-bon (CCS) trong ngành dầu khí.
Theo ông Đoàn Văn Thuần, Viện Dầu khí Việt Nam, các chính sách ưu đãi đối với mỏ dầu khí cận biên và hoạt động nâng cao hệ số thu hồi dầu khí (EOR) đang rất được kỳ vọng. Nhà thầu có thể sử dụng toàn bộ phần dầu khí được chia để thu hồi chi phí khi đáp ứng đủ các điều kiện, và được hưởng toàn bộ phần dầu khí lãi còn lại sau khi thu hồi hết chi phí và hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Viện Dầu khí Việt Nam kiến nghị sớm ban hành nghị định hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt đối với phát triển mỏ dầu khí cận biên và nâng cao hệ số thu hồi dầu, tạo cơ sở để nhà thầu áp dụng.
Nhìn nhận chính sách mới ở góc độ khai mở tiềm năng kinh tế biển, ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, năng lượng giữ vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội mới theo hướng tăng trưởng nhanh, mạnh mẽ và bền vững. Đặc biệt, hoạt động dầu khí là một cấu phần quan trọng, đồng thời gắn với chiến lược phát triển kinh tế biển và yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia.
Nghị quyết số 20-NQ/TW về phát triển kinh tế biển, Nghị quyết số 79-NQ/TW về kinh tế nhà nước và Luật số 68/2025/QH15 về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã tạo ra những thay đổi đáng kể về phân cấp, phân quyền và nguyên tắc quản lý. Bởi vậy, lần sửa đổi Luật Dầu khí không đơn thuần là điều chỉnh một số quy định để xử lý những vướng mắc phát sinh, mà quan trọng hơn là đáp ứng yêu cầu cải cách thể chế, qua đó biến thể chế thành một lợi thế cạnh tranh của quốc gia.
Đề xuất cần tập trung phát triển đồng bộ hệ sinh thái công nghiệp năng lượng, TS. Nguyễn Hùng Dũng nhấn mạnh cần đầu tư song song giữa nguồn điện với hạ tầng truyền tải, hệ thống lưu trữ, chuỗi cung ứng thiết bị và dịch vụ kỹ thuật. Việc ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen sẽ là chìa khóa để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và gia tăng năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế Việt Nam.

