
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Văn bản này đã tạo khung pháp lý cho thị trường carbon rừng, nhưng điều được các địa phương, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế quan tâm ngay khi bắt đầu triển khai lại không phải giá bán tín chỉ hay quy mô thị trường. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra đều xoay quanh một vấn đề cơ bản. Đó là, khi nào kết quả giảm phát thải mới được coi là tín chỉ carbon và ai thực sự có thể tham gia thị trường này?
Không ít chủ rừng hiện nay vẫn có chung suy nghĩ rằng chỉ cần bảo vệ hoặc trồng rừng theo phương pháp truyền thống để hấp thụ thêm carbon là có thể hình thành tín chỉ để giao dịch. Tuy nhiên, theo cơ quan quản lý, đó mới chỉ là điểm khởi đầu của cả một quy trình kỹ thuật và pháp lý.
Giảm phát thải mới là bước đầu của thị trường carbon
Một trong những nội dung được địa phương thắc mắc và gửi ý kiến tới Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm khi bàn kế hoạch triển khai Nghị định 180, là sự khác biệt giữa kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon.

Bà Nghiêm Phương Thuý, Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác quốc tế giải đáp, rằng kết quả giảm phát thải mới là bước đầu tiên. Chỉ sau khi trải qua đầy đủ các quy trình theo quy định, lượng giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon mới có thể được xem xét để hình thành tín chỉ carbon đủ điều kiện cung ứng cho thị trường.
Sự phân biệt này cũng là nền tảng của Nghị định 180. Theo quy định, dự án carbon rừng phải được xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh trước khi cơ quan có thẩm quyền xác nhận kết quả giảm phát thải hoặc cấp tín chỉ. Chỉ sau bước xác nhận này, kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon mới được phép trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon.
Chính vì vậy, một loạt vấn đề khác được các tổ chức quốc tế đặt ra đều tập trung vào cách xác định lượng carbon đủ điều kiện hình thành tín chỉ thay vì giá bán hay cơ chế giao dịch.
Đại diện IFAD tại Việt Nam phân vân, rằng liệu các mô hình nông lâm kết hợp hoặc cây phân tán ngoài đất lâm nghiệp có được tính là dự án carbon rừng hay không, đồng thời băn khoăn cách xử lý khi trên cùng địa bàn đã tồn tại các chương trình giảm phát thải trước đó.
Trong khi đó, đại diện WWF Việt Nam quan tâm việc ghi nhận kết quả giảm phát thải vào hệ thống Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) trong trường hợp dự án chưa được cấp tín chỉ. Tổ chức Forest Trends lại đặt vấn đề về vai trò của rừng trồng hộ gia đình trong đóng góp giảm phát thải quốc gia và khả năng tham gia thị trường carbon của nhóm chủ rừng này.
Theo các chuyên gia, đây đều là những câu hỏi xuất hiện khi thị trường carbon bắt đầu chuyển từ xây dựng chính sách sang triển khai trên thực địa, nơi mỗi khu rừng có nguồn gốc hình thành, chủ sở hữu và phương thức quản lý khác nhau.

Từ cây phân tán đến rừng hộ gia đình đều cần hướng dẫn cụ thể
Không chỉ khác nhau về lượng carbon hấp thụ, các loại rừng còn khác nhau về chủ thể quản lý, quyền sử dụng đất và cơ chế tham gia thị trường.
Trả lời câu hỏi của Forest Trends, bà Thúy cho biết, các quy định hiện hành (trong đó có Nghị định 180) về phát triển thị trường carbon áp dụng đối với tổ chức, không áp dụng cho cá nhân. Vì vậy, hộ gia đình không trực tiếp đăng ký dự án carbon mà có thể liên kết hoặc ủy quyền cho tổ chức có tư cách pháp nhân để tham gia dự án theo quy định.
Đây cũng là một trong những nội dung được phản ánh trong kế hoạch triển khai Nghị định. Theo đó, đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân do hộ gia đình, cá nhân hoặc cộng đồng quản lý, việc xây dựng và triển khai dự án carbon được thực hiện thông qua hình thức hợp tác, liên kết với tổ chức có tư cách pháp nhân; còn đối với rừng không thuộc sở hữu toàn dân, chủ rừng có thể tự thực hiện hoặc liên kết, ủy quyền theo quy định.
Một vấn đề khác cũng nhận được sự quan tâm của nhiều địa phương là cách xử lý các diện tích rừng có sự thay đổi về hiện trạng trong quá trình quản lý.

Ông Nguyễn Văn Bông, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh nêu trường hợp nhiều diện tích trước đây giao cho hộ gia đình không phải rừng tự nhiên nhưng sau quá trình phục hồi đã trở thành rừng tự nhiên.
Về vấn đề này, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho biết, việc xác định trạng thái rừng thuộc thẩm quyền công bố hằng năm của địa phương. Khi hiện trạng đã được xác định là rừng tự nhiên thì việc áp dụng các cơ chế, chính sách sẽ căn cứ vào trạng thái rừng đã được công bố.
Đồng thời, ông cũng nhắc lại quy định tại Nghị định 58/2024/NĐ-CP cho phép chủ rừng được hưởng các nguồn thu hợp pháp, trong đó dịch vụ môi trường rừng là nguồn thu bổ sung bên cạnh hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng, nhiều nội dung kỹ thuật cũng tiếp tục được góp ý. Đại diện CARE Việt Nam đề nghị cần có hướng dẫn cụ thể hơn về công khai, minh bạch thông tin thay vì chỉ dừng ở các nguyên tắc chung.
Ghi nhận ý kiến này, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho biết, thời gian duy trì dự án chỉ quy định mức tối thiểu nhằm bảo đảm việc giám sát các yếu tố môi trường và xã hội. Việc xử lý rủi ro đảo nghịch phát thải sẽ được xem xét thông qua cơ chế lượng dự phòng thay vì chỉ nhìn vào hoạt động khai thác rừng đơn lẻ.
“Phần lớn các ý kiến đều tập trung vào những nội dung cần được hướng dẫn cụ thể hơn”, Phó Cục trưởng Phạm Hồng Lượng tổng kết và nói thêm, rằng Nghị định 180 vừa ban hành phải kế thừa nhiều quy định hiện có về khí nhà kính, thị trường carbon và lâm nghiệp. Do đó, Cục sẽ tiếp tục xây dựng các tài liệu hướng dẫn theo từng bước, từng khâu để địa phương và chủ rừng thuận lợi hơn khi triển khai.
Những câu hỏi được đặt ra tại hội nghị cho thấy thị trường carbon rừng của Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới. Thách thức không còn là có hay không có khung pháp lý, mà là làm thế nào để các quy định được cụ thể hóa thành hướng dẫn đủ chi tiết, xử lý được những tình huống phát sinh từ từng cánh rừng, từng chủ rừng và từng dự án.
Khi những khoảng trống đó dần được lấp đầy, kết quả giảm phát thải mới có thể thực sự chuyển hóa thành những tín chỉ carbon đủ điều kiện tham gia thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về đối tượng, hình thức chỉ trả, mức chỉ trả và quản lý, sử dụng tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng; dự án carbon rừng, xác định kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon rừng được cung ứng. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2026.
Bảo Thắng

