
Công nghiệp nặng đối mặt áp lực chi phí phát thải
Theo TS. Nguyễn Sĩ Linh, Trưởng ban Biến đổi khí hậu, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (ISPAE), khi doanh nghiệp không đáp ứng được lượng phát thải được phân bổ, về bản chất chỉ còn hai lựa chọn.
Một là tự giảm phát thải thông qua đổi mới công nghệ, cải tiến dây chuyền sản xuất hoặc điều chỉnh quy mô hoạt động để đưa lượng phát thải về dưới mức trần được cấp. Hai là tham gia thị trường carbon để mua lại hạn ngạch phát thải từ các doanh nghiệp khác nhằm bù đắp phần thiếu hụt.
Tuy nhiên, phương án đầu tiên không hề đơn giản. Đối với nhiều doanh nghiệp công nghiệp nặng, việc giảm phát thải đòi hỏi những khoản đầu tư rất lớn và thời gian triển khai kéo dài nhiều năm.
Lấy ví dụ trong ngành xi măng, một số nhà máy thuộc nhóm 110 cơ sở phát thải lớn tham gia thí điểm thị trường carbon phải đầu tư hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng để chuyển đổi từ công nghệ lò nung cũ sang hệ thống tận dụng nhiệt dư phát điện. Đây là khoản chi phí không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thực hiện ngay trong ngắn hạn.
Chính vì vậy, việc mua bán hạn ngạch phát thải đang được xem là giải pháp khả thi hơn trong giai đoạn đầu. Thông qua cơ chế giao dịch theo Nghị định 119/2025/NĐ-CP, các doanh nghiệp phát thải vượt mức có thể mua lại phần hạn ngạch còn dư từ những đơn vị giảm phát thải hiệu quả hơn.
Ngoài hạn ngạch phát thải, doanh nghiệp còn được phép sử dụng tín chỉ carbon hợp pháp từ thị trường tự nguyện để bù trừ tối đa 30% nghĩa vụ nộp trả hạn ngạch.
Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Sĩ Linh, khó khăn lớn nhất hiện nay là hệ thống giao dịch và cơ chế bù trừ vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Nhiều doanh nghiệp chưa xác định được nguồn cung tín chỉ đáng tin cậy, chưa nắm rõ quy trình giao dịch cũng như chưa có cơ sở để định giá tín chỉ carbon.
Điều này khiến không ít doanh nghiệp rơi vào tình trạng bị động trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất, dự báo chi phí môi trường và đánh giá các rủi ro pháp lý liên quan đến phát thải.
Trong bối cảnh các yêu cầu về giảm phát thải ngày càng trở nên khắt khe, đặc biệt khi các thị trường xuất khẩu lớn áp dụng những công cụ như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU), chi phí carbon được dự báo sẽ trở thành một yếu tố cấu thành mới trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam.
Tín chỉ carbon không còn đồng nhất

Trong khi các doanh nghiệp công nghiệp đang tìm kiếm nguồn tín chỉ carbon để đáp ứng nghĩa vụ tuân thủ, các hợp tác xã nông nghiệp, dự án lâm nghiệp và các mô hình sản xuất xanh lại nổi lên như những nhà cung cấp tín chỉ tiềm năng cho thị trường.
Tuy nhiên, khác với nhận thức phổ biến trước đây rằng một tấn CO₂ giảm phát thải có giá trị tương đương nhau, thực tế thị trường đang cho thấy sự phân hóa rất lớn về giá tín chỉ carbon.
Ông Nguyễn Hữu Tuệ, Giám đốc HTX Chăn nuôi Nguyễn Gia cho biết tín chỉ carbon tại đơn vị hiện được giao dịch với mức giá hơn 2 USD/tín chỉ. Tuy nhiên, ngay trong cùng lĩnh vực chăn nuôi, giá tín chỉ vẫn có thể khác nhau đáng kể tùy thuộc vào công nghệ áp dụng, tiêu chuẩn chứng nhận, mức độ giảm phát thải thực tế và các giá trị xã hội mà dự án mang lại.
Theo ông Nguyễn Trung Thông, chuyên gia carbon rừng của Forest Trends, trong lĩnh vực lâm nghiệp, sự khác biệt về chất lượng dự án có thể khiến giá tín chỉ chênh lệch tới 5 lần.
Dữ liệu từ Sylvera và Ngân hàng Thế giới cho thấy những dự án đạt xếp hạng tín nhiệm từ BBB trở lên có thể được giao dịch ở mức khoảng 30 USD cho mỗi tấn CO₂ tương đương. Trong khi đó, các dự án có xếp hạng dưới BB chỉ đạt khoảng 8,7 USD và những dự án chưa được đánh giá tín nhiệm chỉ dao động quanh mức 6,3 USD.
Không chỉ chất lượng dự án, loại hình tín chỉ và khu vực địa lý cũng tác động mạnh tới giá trị giao dịch. Các tín chỉ từ dự án trồng mới và phục hồi rừng (ARR) hiện có giá khoảng 14 USD/tấn CO₂ tương đương. Đối với các dự án REDD+ tại Đông Nam Á, giá đạt khoảng 12 USD/tấn, trong khi cùng loại hình tại Nam Mỹ chỉ ở mức khoảng 7 USD/tấn.
Đặc biệt, các tín chỉ đáp ứng tiêu chuẩn CORSIA dành cho ngành hàng không quốc tế đang được giao dịch quanh mức 15 USD/tấn, cao gấp nhiều lần so với các tín chỉ chưa đáp ứng tiêu chuẩn này.
Theo ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc Khối Phân tích và Nghiên cứu của Agriseco, dù Việt Nam đã xây dựng được khung pháp lý tương đối đầy đủ cho mục tiêu Net Zero, khoảng cách lớn nhất hiện nay vẫn nằm ở năng lực thương mại hóa tín chỉ carbon.
Hệ thống MRV (Đo đạc – Báo cáo – Thẩm định) chưa đồng bộ, dữ liệu phát thải còn phân tán và cơ chế xác lập quyền sở hữu tín chỉ chưa thực sự rõ ràng là những điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Giai đoạn thí điểm thị trường carbon hiện nay sẽ đóng vai trò như một “sân tập” để doanh nghiệp làm quen với cơ chế giao dịch, từng bước hình thành năng lực quản trị phát thải và thích ứng với xu hướng kinh tế carbon thấp.
Trong dài hạn, những doanh nghiệp chủ động chuyển đổi xanh sớm sẽ có lợi thế đáng kể. Không chỉ giảm rủi ro tuân thủ, họ còn có cơ hội biến các nỗ lực giảm phát thải thành tài sản tài chính có giá trị.
Thực tế đã cho thấy nhiều dự án nâng cao hiệu quả năng lượng không những giúp giảm hàng nghìn tấn CO₂ mỗi năm mà còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vận hành. Điều đó cho thấy giảm phát thải không chỉ là nghĩa vụ môi trường mà đang dần trở thành một chiến lược kinh doanh và năng lực cạnh tranh mới của doanh nghiệp trong nền kinh tế xanh.
Tiểu Vy

