
Đưa tín chỉ carbon rừng ra thị trường
Sau sáp nhập, TP. Đà Nẵng có tổng diện tích rừng và diện tích đã trồng cây rừng khoảng 745.027 ha, trong đó diện tích rừng trồng khoảng 241.639 ha. Đặc biệt, diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC đạt hơn 27.000 ha. Đây là nền tảng thuận lợi để Đà Nẵng tham gia thị trường tín chỉ các-bon toàn cầu.
Để tạo nền tảng pháp lý cho việc khai thác giá trị từ rừng, ngày 11/11/2025, HĐND TP. Đà Nẵng ban hành Nghị quyết số 06/2025/NQ-HĐND về việc sử dụng nguồn thu từ giao dịch tín chỉ các-bon cho các chương trình, dự án ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn.
Tiếp đó, UBND TP. Đà Nẵng ban hành Quyết định số 3688/QĐ-UBND ngày 18/8/2026 phê duyệt Đề án phát triển và quản lý tín chỉ các-bon rừng giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2035. Đề án được xem là trục “xương sống” để hiện thực hóa định hướng phát triển kinh tế xanh từ rừng. Trong giai đoạn 2026-2030, thành phố tập trung điều tra, rà soát, xác định hiện trạng rừng để tính toán trữ lượng các-bon, đồng thời phân loại 100% diện tích rừng có tiềm năng triển khai dự án.
Cùng với đó, thành phố phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu nền, xác lập đường cơ sở (baseline) và mức tham chiếu phát thải rừng (FREL/FRL) nhằm phục vụ quản lý nhà nước và đáp ứng các quy định pháp luật. Đây là cơ sở quan trọng để Đà Nẵng thiết lập hệ thống quản lý các-bon rừng đồng bộ, minh bạch, phục vụ công tác đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh (MRV), qua đó kiểm soát chặt chẽ kết quả giảm phát thải và tăng hấp thụ các-bon.
Nguồn thu từ tín chỉ các-bon rừng sẽ được tái đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao sinh kế cho người dân địa phương. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, tối thiểu 70% chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng dân cư đủ điều kiện sẽ được tham gia chuỗi hoạt động này.
Đến năm 2030, Đà Nẵng phấn đấu có từ 1-3 dự án các-bon rừng được phê duyệt, hợp tác với ít nhất 2 đối tác trong và ngoài nước; hoàn thành tối thiểu 1-2 hồ sơ đăng ký dự án và ký kết ít nhất một hợp đồng mua bán tín chỉ các-bon.
Ông Trần Văn Thu, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng, khẳng định thương mại hóa tín chỉ các-bon rừng là hướng đi chiến lược nhằm chuyển hóa giá trị hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng thành nguồn lực cho phát triển kinh tế tuần hoàn.
Theo ông Thu, đối với ngành kiểm lâm, đây là sự kế thừa và hoàn thiện những kinh nghiệm từ giai đoạn trước. Cụ thể, tỉnh Quảng Nam (cũ) từng nghiên cứu, thử nghiệm cơ chế giảm phát thải và tín chỉ các-bon rừng, tạo tiền đề cho việc bảo vệ và phục hồi rừng bền vững.
Những kinh nghiệm này là nền tảng để Đà Nẵng tiếp tục hoàn thiện và phát triển thị trường tín chỉ các-bon rừng ở quy mô lớn hơn, nhất là khi Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng đã chính thức tạo ra hành lang pháp lý quan trọng.
Thu hút dòng vốn xanh vào Trung tâm Tài chính quốc tế

Bên cạnh lợi thế về tài nguyên rừng, Đà Nẵng còn có cơ hội phát triển thị trường tín chỉ các-bon gắn với quá trình hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố (VIFC-DN).
Theo GS. Nguyễn Hữu Ninh, Chủ tịch Công ty TNHH Cered, VIFC-DN nên tham khảo mô hình của IFC Busan, trong đó lựa chọn và định hình một sản phẩm chuyên biệt, nổi trội. Với Đà Nẵng, ông cho rằng phát triển thị trường tín chỉ các-bon có thể trở thành một “điểm nhấn” chiến lược, góp phần thu hút dòng vốn xanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao vị thế của thành phố trong nền kinh tế các-bon thấp.
Theo ông Ninh, nếu tập trung phát triển thị trường các-bon với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cơ chế minh bạch và đội ngũ chuyên gia đủ mạnh, Đà Nẵng có thể trở thành trung tâm giao dịch tín chỉ các-bon của khu vực. Qua đó, thành phố có thêm điều kiện đón đầu dòng vốn xanh và gia tăng vai trò trong xu thế chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải thấp.
Định hướng này cũng được lãnh đạo TP. Đà Nẵng xác định trong quá trình xây dựng VIFC-DN. Ông Hồ Kỳ Minh, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng cho biết, thành phố xác định một số lĩnh vực có thể tạo lợi thế khác biệt cho VIFC-DN, gồm quản lý quỹ và quản lý tài sản, tài chính xanh và thị trường các-bon, sàn giao dịch hàng hóa, công nghệ tài chính cùng các nền tảng, sản phẩm tài chính đổi mới.
Mục tiêu không chỉ là thu hút từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà từng bước hình thành hệ sinh thái gồm nhà đầu tư, định chế tài chính, doanh nghiệp công nghệ, đơn vị tư vấn pháp lý, kế toán – kiểm toán, quản trị rủi ro và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đặc biệt, thành phố kỳ vọng tăng cường kết nối dòng vốn quốc tế với quá trình chuyển đổi xanh của Việt Nam. Khi tài chính xanh, thị trường các-bon và đầu tư bền vững ngày càng trở thành những xu hướng lớn của thị trường tài chính toàn cầu, đây vừa là yêu cầu phát triển, vừa mở ra cơ hội để Đà Nẵng thu hút các nguồn vốn mới.
Các dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên tại VIFC-DN được áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong thời hạn 30 năm. Đối với chuyên gia, nhà quản lý quốc tế đủ điều kiện, chính sách ưu đãi gồm miễn thuế thu nhập cá nhân đến hết năm 2030 và thời hạn cư trú lên tới 10 năm cho bản thân và gia đình. Tiếng Anh được sử dụng trong hoạt động của Trung tâm; không áp dụng hạn ngạch đối với lao động nước ngoài. Trung tâm cũng định hướng áp dụng đầy đủ các chuẩn mực IFRS và IAS trong báo cáo tài chính.
Những cơ chế này cùng với định hướng phát triển tài chính xanh và thị trường các-bon được kỳ vọng tạo thêm điều kiện để VIFC-DN kết nối nguồn vốn quốc tế với các dự án chuyển đổi xanh, qua đó đưa giá trị các-bon từ tài nguyên rừng và các hoạt động giảm phát thải vào chuỗi tài chính mới.
“Chúng tôi kỳ vọng VIFC-DN có thể trở thành đầu mối kết nối các dự án xanh có chất lượng với nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy các sản phẩm tài chính xanh và hỗ trợ hình thành hệ sinh thái thị trường các-bon ngày càng minh bạch, hiệu quả”, ông Hồ Kỳ Minh, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng nhấn mạnh.

Lan Anh – Duy Khánh

